Cải thiện sinh kế cho người dân vùng đệm
Thu nhập chính của gia đình anh Điểu Nhoách, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông chỉ dựa vào 1,3 ha đất trồng cà-phê xen canh với cây bơ, mỗi năm chỉ được khoảng 30 triệu đồng. Do cuộc sống thiếu thốn nên vợ chồng Điểu Nhoách phải gửi con cho bố mẹ rồi đi làm thuê theo thời vụ cho người dân địa phương để kiếm thêm thu nhập. Vất vả nhưng anh vẫn không đủ chi tiêu, thường xuyên thiếu đói vào mùa giáp hạt. Từ năm 2016, anh tham gia tổ nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ Thác Mơ, nhờ đó có thêm thu nhập để chi tiêu trong gia đình, cuộc sống bớt đi phần nào khó khăn, thiếu thốn.
Với 22 thành viên, Tổ quản lý, bảo vệ rừng số 9 do Điểu Nhoách làm tổ trưởng, nhận hợp đồng giao khoán bảo vệ 115 ha rừng phòng hộ Thác Mơ, thuộc huyện Tuy Đức. Hằng tháng, tổ chia thành nhiều nhóm thay phiên nhau tuần tra, kiểm soát diện tích rừng nhận khoán nhằm phát hiện những dấu hiệu xâm hại đến rừng và đất rừng báo về Ban Quản lý và lực lượng chức năng địa phương để ngăn chặn, xử lý kịp thời. Mỗi năm, Tổ được nhận khoảng 97 triệu đồng. Điểu Nhoách chia sẻ: "Số tiền nhận được từ việc quản lý, bảo vệ rừng đã giúp người dân cải thiện được sinh kế đáng kể, nhất là cứu đói vào mùa giáp hạt nên mọi người đã tham gia rất vui vẻ, nhiệt tình. Với số tiền được nhận, nhiều hộ đã tái đầu tư vào sản xuất, mua thêm con giống để chăn nuôi, nên cuộc sống trở nên đỡ vất vả hơn nhiều".
Cũng nhờ tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, cuộc sống của hộ anh K Sriu thuộc Cụm dân cư số 1, xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông đã có những cải thiện đáng kể. Với chín thành viên trong một gia đình có ba thế hệ cùng chung sống, thu nhập của hộ anh K Sriu chỉ trông chờ vào 3 ha cà-phê già cỗi và hai sào lúa, đối mặt với đói nghèo quanh năm. Cuộc sống khó khăn khiến một số hộ đồng bào nơi đây không ít lần "xâm hại tới rừng" để có tiền trang trải cuộc sống… Năm 2017, K Sriu và các hộ dân Cụm dân cư số 1 đã được Vườn quốc gia Tà Đùng giao khoán quản lý bảo vệ rừng theo hình thức nhóm hộ, bình quân mỗi hộ từ 25-30 ha, với thu nhập mỗi năm khoảng 27 triệu đồng, từ đó đời sống ngày càng được cải thiện.
Theo đại diện Ban Quản lý Vườn quốc gia Tà Đùng: Trong giai đoạn 2017-2020, Vườn quốc gia Tà Đùng đã thực hiện phương án giao khoán quản lý, bảo vệ rừng cho các hộ dân là hộ nghèo, cận nghèo người đồng bào dân tộc thiểu số sống gần rừng. Tổng diện tích giao khoán hơn 6.000 ha, có 201 hộ nhận khoán, với tổng số tiền các hộ dân được nhận gần 21,7 tỷ đồng, bình quân 1 ha nhận khoán người dân nhận được khoảng 900.000 đồng/năm. Trong đó, kinh phí từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng chiếm gần 70%, còn lại là nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
Kịp thời bổ sung nguồn nhân lực
Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung có tổng diện tích tự nhiên hơn 23 nghìn ha, trải rộng trên địa giới hành chính của bảy xã, thuộc ba huyện Krông Nô, Đắk Song và Đắk Glong của tỉnh Đắk Nông. Do điều kiện làm việc của lực lượng bảo vệ rừng trực tiếp còn khó khăn, thiếu thốn, chế độ đãi ngộ thấp, trong khi địa bàn quản lý rộng, áp lực lớn nên thời gian qua đã có hơn 15 người xin nghỉ việc. Do đó, theo Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung Nguyễn Văn Mạnh, chính sách giao khoán cho người dân là hết sức cần thiết, góp phần bổ sung nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng; cải thiện sinh kế cho người dân, nhất là hộ nghèo, cận nghèo là người dân tộc thiểu số vùng giáp ranh.
Giám đốc Ban quản lý Rừng phòng hộ Thác Mơ Nguyễn Xuân Khương cho biết, đơn vị cũng gặp khó khăn do thiếu hụt nguồn nhân lực. Vì vậy, việc giao khoán rừng cho người dân quản lý, bảo vệ là giải pháp kịp thời cho đơn vị. Mặt khác, áp lực xâm lấn rừng và đất rừng lớn nhất là ở đối tượng dân cư sống giáp ranh với rừng, nên việc giao khoán có lợi ích về nhiều mặt, vừa cải thiện sinh kế cho người dân, nâng cao ý thức cho cộng đồng dân cư, đồng thời tăng trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ rừng…
Đồng tình với quan điểm trên, Giám đốc Ban Quản lý Vườn quốc gia Tà Đùng Khương Thanh Long nhìn nhận: Trong điều kiện thiếu về nguồn nhân lực, chế độ đãi ngộ cho lực lượng bảo vệ rừng trực tiếp còn thấp, chính sách giao khoán rừng đã kịp thời giúp bổ sung nguồn nhân lực, giảm bớt áp lực cho đơn vị chủ rừng. Rừng được chăm sóc, bảo vệ tốt hơn; người dân sinh sống gần rừng được hưởng lợi từ nguồn kinh phí dịch vụ môi trường rừng, từ đó họ có trách nhiệm hơn trong công tác bảo vệ rừng. Tuy nhiên, cũng theo ông Long, cùng công việc quản lý bảo vệ rừng như nhau nhưng kinh phí chi trả cho các hộ nhận khoán lại khác nhau giữa các lưu vực trên cùng diện tích nên tạo ra sự bất bình đẳng giữa các hộ nhận khoán, gây khó khăn khi chi trả cho người dân, không đồng thuận cao trong các hộ nhận khoán. Ngân sách nhà nước chưa cấp kịp thời để hỗ trợ thêm kinh phí cho người dân theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP, ngày 9/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số; Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp… Đây là những tồn tại cần sớm được giải quyết để chính sách gắn sát với thực tế này phát huy hiệu quả hơn trong thời gian tới.