Năm 1993, vừa tốt nghiệp đại học, sau khi vượt qua sông Mê Công bằng đường bộ qua thủ đô Viên-chăn của Lào, tôi đón cái Tết đầu tiên ở nước ngoài tại Noong Khai, một tỉnh đông bắc Thái-lan, nơi có rất nhiều bà con người Việt Nam đang định cư, sinh sống. Lúc đó, các em gái người Thái-lan rất ít được đi học. Nhà nào giàu có lắm mới có ý định cho con gái mình học hết trung học phổ thông. Vì vậy, một cô gái 21 tuổi như tôi có bằng đại học và lại thông thạo tiếng Anh đã chiếm trọn ánh mắt ngưỡng mộ của không những bà con Việt kiều mà cả người bản địa ở đó. Họ nói, thấy cô, tôi biết Việt Nam đang phát triển, chúng tôi thấy vui và tự hào vì mình là người Việt Nam.
Năm 1996, tôi đi vòng quanh châu Âu. Trong một đêm mưa tuyết sát lễ Giáng sinh, tôi bị lạc giữa một thị trấn nhỏ heo hút trên đỉnh núi
Ba-xtông, Bỉ. Lạnh và đói. Đã xác định phải ngủ tạm trong xe, hoặc chạy suốt đêm trên đường sang Hà Lan thì bỗng nhìn thấy một tấm biển nhỏ mầu vàng sáng đèn rất khiêm tốn với chữ PHO Vietnam. Suốt cả tháng lang thang khắp châu Âu, vào thời điểm chưa chấm dứt hẳn cấm vận kinh tế của Mỹ, ngoài mấy khu riêng biệt của cộng đồng người Việt, hầu như không có hàng quán Việt Nam nào được công khai với vẻ tự tin đến thế. Bây giờ, đi đến bất kỳ đâu trên thế giới, mỗi khi nhìn thấy một tiệm Phở, tôi không thể không nhớ đến người chủ quán Phở Việt Nam ấy, câu chuyện anh kể về những thăng trầm, khó khăn khi phải chống lại sự cô lập, đe dọa của cộng đồng người Hoa vốn rất đoàn kết và bè cánh giang hồ trong thị trấn để giữ bằng được bảng hiệu "PHO Vietnam".
Những năm sau đó, tôi đã mang những bộ phim tài liệu của mình sang Hàn Quốc, Pháp, Nhật Bản để chiếu. Được đại diện cho các nữ nghệ sĩ của châu Á nói về đất nước mình, nền văn hóa Việt Nam của mình, tôi đã may mắn được đặt chân đến nhiều vùng đất, đến hàng chục đất nước xa xôi để cho các bạn bè, đồng nghiệp quốc tế luôn trao tặng cho mình ánh mắt ấy, ánh mắt luôn sáng lên thông điệp: "Bạn là một người Việt Nam".
2014. Một năm tôi tiếp nối những chuyến đi vòng quanh thế giới. Một năm đặc biệt vì nó để lại cho tôi một quyết tâm hơn bao giờ hết cái ý nghĩ với chính mình: "Hãy cứ là một người Việt Nam kiêu hãnh".
Tháng 3-2014. Trên đỉnh dãy núi An-đếch, Pê-ru, nơi mệnh danh là nóc nhà của châu Mỹ Latin, dưới chân tấm biển bằng tiếng Tây Ban Nha: "Chào mừng bạn đã đến với Pa-xcô, thành phố cao nhất thế giới", Ô-lan-đô, cậu bé da đỏ đạp xe trên con đường dốc đất đá, giữa cái lạnh -5 độ đã vui vẻ trò chuyện với tôi. Cậu nói: "A, cô là người Việt Nam. Tôi biết người Việt Nam, họ rất giỏi và rất tốt với chúng tôi. Họ đến đây, lên núi xây nhà và ở lại cùng chúng tôi. Họ xây những trạm phát sóng viễn thông và dạy cho chúng tôi cách làm việc cùng với họ. Họ đã giúp chúng tôi được sử dụng internet miễn phí trong các trường học, chúng tôi yêu quý người Việt Nam".
Với độ cao gần 5.000 m so với mặt nước biển, du khách lên đến Pa-xcô thường bị đổ máu cam, choáng, ngất vì thiếu ô-xy, thế nhưng hai người Việt Nam thuộc Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel đã bám trụ ở đây được hơn sáu tháng. Họ xanh xao vì thiếu máu lên não, người gầy tong teo vì không khí loãng. Nước ở đây chỉ sôi ở nhiệt độ 80 độ C và thức ăn thì vô cùng thiếu thốn, mì tôm là thứ quá xa xỉ với họ. Chỉ có hai người Việt Nam trên địa bàn rộng phủ sóng viễn thông bằng cả miền trung Việt Nam, vậy mà họ đã làm được. Và hai người đó đã trở thành nhân vật trong bộ phim tài liệu của tôi một cách tự nhiên như việc họ trở thành một cư dân trên đỉnh núi quanh năm tuyết phủ.
Người Pê-ru ở sâu trong rừng già A-ma-dôn nói: "Ở đâu gian khổ nhất, khắc nghiệt nhất, chúng tôi đều thấy có người Việt Nam đang làm việc!". Ngôi làng hơn 192 năm tuổi nằm ở gần ngã ba sông A-ma-dôn, giáp ranh giữa ba nước Cô-lôm-bi-a, Pê-ru và Bra-xin đã trở thành quê hương thứ hai của chàng thanh niên miền sông nước An Giang 23 tuổi: Phạm Ngọc Long. Đang khảo sát để thiết kế và thi công cho trạm phát sóng viễn thông của Viettel cùng với một kỹ sư người bản địa, Long mới nhập cư được hơn ba tháng nhưng đã được những thổ dân trong ngôi làng yêu quý hết mức! Họ thậm chí còn tập nấu các món ăn Việt Nam theo cách của Long để cho cậu dễ thích nghi với cuộc sống ở đây hơn. Leonardo, bạn đồng nghiệp của Long kể với tôi: Cả làng này họ cứ xôn xao vì một người châu Á đến tận rừng sâu thế này làm việc. Trước đây cũng đã từng có người châu Á đến đây kinh doanh bị muỗi và kiến độc đốt chết trong rừng nên lâu lắm không thấy khách lạ đến ở lại với họ.
Ngày 2-5-2014, tôi đang có mặt ở cảng Maputo, thủ đô của Mô-dăm-bích. Cậu bé da đen có tên là Joaquim kể: "Nếu cô nhìn xuống bến tàu, sẽ thấy đoàn xe tải chở những cây gỗ rất nhỏ, dài và thẳng đang đi lên của Việt Nam. Họ mua gỗ ở nơi khác đến đây trồng cột điện thoại và internet cho chúng tôi. Người Việt Nam đến đây, xây trường học, bệnh viện và nhờ có họ mà nhiều người trong chúng tôi được biết đến điện thoại di động".
Cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã được đưa vào giáo trình dạy lịch sử của học sinh Mô-dăm-bích. Cậu bé Joaquim nói: "Chính tôi đã được dạy ở trường rằng, chỉ chưa đầy một năm sau ngày Mô-dăm-bích giành được độc lập, tên của Bác Hồ được lựa chọn để đặt cho một đại lộ to, đẹp và nằm ngay ở trung tâm của thủ đô Maputo; và sau này, tượng của Tổng thống Joaquim Alberto Chissano được đặt sát bên cạnh". Kể từ đó, Đại lộ Hồ Chí Minh như một sợi dây kết nối hai quốc gia, hai dân tộc.
Tháng 6-2014. Trong khu vực vườn quốc gia Mikumi ở Tan-da-ni-a, một người đàn ông lớn tuổi hỏi tôi về Tướng Giáp, về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông ấy là Thượng tướng Francis, một vị tướng quân đội đã từng làm Đại sứ Tan-da-ni-a ở Burundi đóng vai trò "đại sứ thiện chí" với Viettel trên đất Tan-da-ni-a. Ngài Thượng tướng nói: "Việt Nam, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đã chiến thắng hai cường quốc là Pháp và Mỹ. Người Việt Nam rất anh hùng và yêu đất nước của họ. Chúng tôi luôn ngưỡng mộ người Việt Nam".
Tháng 10-2014. Tôi mang bộ phim Những câu chuyện nhỏ trên biển lớn về đề tài biển đảo Việt Nam sang chiếu tại các trường đại học lớn nhất nước Mỹ. Tôi đã đến bên "Bức tường than khóc" ở thủ đô Washington.D.C để suy ngẫm về những điều phi lý, ngốc nghếch của những cuộc chiến tranh đã mang lại. Một cựu chiến binh Mỹ đã đến bên trò chuyện và đề nghị chụp ảnh cho tôi. Howard Chernikoff hiện là một nhiếp ảnh gia. Ông ấy đã từng tham gia lực lượng Hải quân trong những năm 1968-1978 tại Biển Đông. Howard đưa tôi đến Bảo tàng Hải quân Mỹ và nói mong muốn sẽ được trở lại Biển Đông một lần trước khi nhắm mắt... Howard cũng là một thành viên đồng sáng lập nên Quỹ Tưởng niệm Cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Ông ấy nói, cô hãy tự hào vì mình là một người Việt Nam, một người Việt Nam đáng được hãnh diện vì những gì họ đã làm để bảo vệ Tổ quốc!
Năm 2015 đã lại mở ra trước mắt tôi với những chuyến đi và những bộ phim mới ở những phương trời xa xôi. Tôi chưa bao giờ cảm thấy thiếu tự tin vì mình muốn sống như một người Việt Nam kiêu hãnh. Chỉ khi bước chân ra với thế giới, chúng ta mới hiểu giá trị của tư thế ngẩng cao đầu mà sống, kiêu hãnh mà sống, thật tử tế và tốt bụng để mà sống với nhau sẽ có giá trị thế nào với vị thế quốc gia và góp phần giữ gìn hình ảnh của dân tộc mình hơn mà thôi.
Tôi đã may mắn được đặt chân đến nhiều vùng đất, đến hàng chục đất nước xa xôi để cho các bạn bè, đồng nghiệp quốc tế luôn trao tặng cho mình ánh mắt ấy, ánh mắt luôn sáng lên thông điệp: "Bạn là một người Việt Nam".