Đi qua cơn bão khát

Đồng khô, cỏ cháy, đất đai trơ mình hứng chịu cái nắng như thiêu đốt khi đợt hạn hán dữ dội nhất lịch sử đi qua, từng ngày. Nông dân vựa lúa miền tây không thể tin rằng ruộng đồng trù phú, đất đai màu mỡ ngày nào, giờ phải bỏ hoang, khô cằn như sa mạc. Không thể tiếp tục coi nước mặn là kẻ thù, mà phải nắm lấy cơ hội, khai thác tiềm năng, lợi thế để chuyển đổi sản xuất phù hợp. Người nông dân đang chờ...

Đi qua cơn bão khát

1 Cuối tháng 5. Những cơn mưa đầu mùa bắt đầu đổ nước. Mùa mưa đến trễ hơn một tháng, trong năm nay. Mưa rải rác, chứ chưa tưới mát cả đồng bằng. Chưa xua đi cơn khát hạn, mặn khốc liệt nhất lịch sử trong vòng chín chục năm qua ở vựa lúa lớn nhất nước. Tôi phóng xe máy dọc theo tuyến quốc lộ Nam Sông Hậu, từ TP Cần Thơ đổ về phía biển. Đến địa phận huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã thấy cảnh đồng khô, cỏ cháy, ruộng đất bỏ hoang ở hai bên bờ. Càng đi sâu về phía cửa biển Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, cái nóng càng trở nên gay gắt và khốc liệt hơn.

Dòng Hậu Giang vẫn lờ đờ đổ ra biển, mặt nước vẫn xanh trong nhưng sao mặn đắng lòng. Những con đập ngăn mặn nằm ven quốc lộ đều đóng kín, quay lưng, ngoảnh mặt với con sông Hậu hiền hòa, thuở trước. Cây cối ven hai bên đường úa lá, chết khô, trơ trọi. Chiếc xe máy phóng hơn 70 km/giờ mà nắng nóng cứ hầm hập, táp từng trận vào mặt bỏng rát. Những cánh đồng ruộng khô cằn đang oằn mình chịu đựng cái nắng chói chang. Tôi lẩm nhẩm, tự làm phép ước lượng, chắc có đến cả nghìn ha đất ruộng bị bỏ hoang, hết thảy. Tôi vẫn cứ lao đi trong cái nóng gần 390C giữa cung đường xẻ dọc miền tây hướng về phía biển. Dẫu cố cũng không tìm thấy một người nào có mặt trên đồng. Vắng ngắt. Từ quốc lộ, rẽ vào con đường nhựa chẻ dọc cánh đồng ấp Nam Chánh và ấp Sóc Lèo xuyên qua thị trấn Lịch Hội Thượng đến xã Liêu Tú, huyện Trần Đề vẫn chung một cảnh xác xơ...

Bà Đào Thị Thái, ở ấp Sóc Lèo, xã Lịch Hội Thượng, năm nay đã ngoài 70 tuổi, kể rành rọt chuyện mất mùa ở làng mình. Cả xã Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề vừa rồi bị mất trắng vụ lúa đông xuân nghe đâu lên tới 300 ha. Nhà bà chỉ có bốn công đất, mỗi năm trông cậy hết vào vụ lúa đông xuân này nhưng cũng chẳng thu hoạch được hột nào. Xuống giống hồi cuối tháng 10 năm ngoái, nhưng cây lúa đẹt đèo, không chịu lớn. Trời không đổ hột mưa, nước tưới cũng khan hiếm. Đã vậy, nước mặn từ biển mấy lần xâm nhập vô tận nội đồng. “Nặng nhứt là đợt cận Tết Nguyên đán vừa rồi, lúc cây lúa mới làm đòng lác đác thì bị đợt mặn dữ dội lấn sâu vô nội đồng làm cây lúa bị sượng, không thể vô hột, cũng hỏng cong trái me. Qua Tết, nắng hạn càng gay gắt, xâm nhập mặn tăng cao làm các cánh đồng lúa ở ấp Sóc Lèo, Nam Chánh chết khô, vàng úa. Một bông lúa cả trăm hột thì bị lép gần hết”, bà Thái cho biết. Đồng ruộng bỏ hoang, không thể trồng trọt được bất cứ thứ gì. Đất ruộng bao la, cò bay thẳng cánh vậy mà không có kế sinh nhai. Con trai bà, anh Lâm Văn Chúc, phải chạy sang huyện khác làm thuê, làm mướn để có tiền trang trải cuộc sống gia đình, nuôi sáu miệng ăn.

Nhưng bà Thái nói, cảnh nhà bà vậy còn “sướng” hơn hàng trăm gia đình khác, mùa màng thất bát, cảnh đói treo lơ lửng trên đầu nên phải bỏ quê, xa xứ đi tận Bình Dương, Đồng Nai làm mướn. Làng quê giờ vắng bóng thanh niên, trai tráng. Chỉ còn người già và trẻ nhỏ ở lại xóm nghèo. “Thiệt tui hổng ngờ cả cuộc đời sống ở miệt đồng bằng đất đai trù phú, được coi là vựa lúa của cả nước mà giờ trở nên nghèo đói cũng ngay trên vựa lúa này. Khổ cái thân đám già và tụi nhỏ ở đây phải lo hết cả chuyện trâu bò, rơm cỏ. Thằng cháu tui kìa, phải thay ba nó đi kiếm gốc rạ hay bất cứ thứ gì để cho bò ăn, chứ cỏ thì bây giờ đã trở thành món ăn xa xỉ của lũ bò”, bà Thái bộc bạch, rồi chỉ tay về phía đứa cháu nội trên cánh đồng cháy khô như “sa mạc”.

Thằng Mừng, cháu bà Thái, chừng 10 tuổi, đứng trơ trọi giữa cánh đồng khô cằn, nứt nẻ chân chim. Đầu trần, chân đất. Nắng cháy thịt da. Thằng bé ốm nhách, khô gầy như thân cây chết đứng giữa những cánh đồng, tôi đã đi qua. Hỏi nó đi tìm gì trên cánh đồng trơ trọi. Nó bảo, đi nhổ gốc rạ khô còn sót lại, về ngâm nước cho bò ăn, thay rơm. “Cánh đồng này bây giờ kiếm được cọng cỏ đỏ con mắt. Dưới chân rạ thì nước mặn ngấm sâu, cỏ còn không nhú lên khỏi mặt đất, lúa làm sao sống nổi”, thằng Mừng nói.

2 Nắng hạn khốc liệt, xâm nhập mặn gây nên cảnh điêu tàn, xơ xác, xô người nông dân nghèo ở vựa lúa miền tây vào cảnh khốn cùng. Tám trên mười tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long đã công bố thiên tai hạn, mặn. Con số thiệt hại liên tục tăng với hơn 200.000 ha lúa, 9.400 ha cây ăn quả, 258.000 cây giống bị chết, 2.000 ha nuôi tôm quảng canh và hơn 220.000 hộ dân bị thiếu nước ngọt sinh hoạt, ước tính thiệt hại khoảng 6.000 tỷ đồng. Một con số thật khủng khiếp đối với những người nông dân quanh năm bán lưng cho trời, bán mặt cho đất để bảo đảm an ninh lương thực cho cả quốc gia. Nhưng các nhà khoa học quả quyết, nông dân miền tây hoàn toàn không đáng bị thiệt hại nặng nề như vậy, nếu cơ quan chức năng không phớt lờ những cảnh báo của thiên nhiên.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái của đồng bằng sông Cửu Long cho rằng, không cần hệ thống cảnh báo gì cao siêu, mà chỉ cần đánh giá thực trạng đã được thiên nhiên “cảnh báo” của năm trước để dự báo cho năm tiếp theo. “Năm ngoái, mùa mưa đến trễ hơn hai tháng và kết thúc sớm. Mùa lũ hay mùa nước nổi năm 2015 là dấu hiệu nhận biết rõ ràng nhất, vì mực nước ngập lũ ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên chỉ ngang đầu gối, thay vì hai, ba mét như mọi năm. Điều này cho thấy, trong mùa khô năm 2016 sẽ bị xâm nhập mặn và gây ra khô hạn trên diện rộng. Cơ quan chức năng hoàn toàn có thể chủ động khuyến cáo người dân các tỉnh ven biển không xuống giống vụ đông xuân và tăng cường tích trữ nước cho sinh hoạt, sẽ tránh được thiệt hại cho dân”, ông Thiện phân tích. Giáo sư, tiến sĩ Võ Tòng Xuân, chuyên gia gắn bó gần cả cuộc đời với nền nông nghiệp nước nhà gọi đó là sự trừng phạt, vì cơ quan chức năng cố tình phớt lờ những cảnh báo khoa học, để người nông dân nghèo phải gánh chịu hậu quả nặng nề.

Theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, điều quan trọng hiện nay là cơ quan quản lý, cấp thẩm quyền cần thay đổi tư duy, không nên tiếp tục coi nước mặn là kẻ thù, mà phải nắm lấy cơ hội khai thác tiềm năng, lợi thế để chuyển đổi xu hướng sản xuất phù hợp. Khi nói đến thiệt hại, nhiều người chỉ nhìn ở góc độ cây lúa nên coi nước mặn là thù địch. Và cũng vì gán cho “trọng trách” an ninh lương thực, nên cơ quan chức năng hướng cho hàng triệu nông dân ở miền tây phải trồng lúa càng nhiều càng tốt. “Trọng trách” đó khiến người nông dân đánh mất cơ hội làm giàu và tăng thu nhập bình quân GDP trên đầu người một cách nhanh chóng, bởi nếu khai thác nước mặn để nuôi trồng thủy sản mà vẫn trồng lúa với các mô hình luân canh “lúa - tôm, lúa - cá”, sẽ hiệu quả hơn.

Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện cho rằng, an ninh lương thực không chỉ có cây lúa, hạt gạo, mà phải có cả cá, tôm. Vì muốn sản xuất càng nhiều lúa, nhiều địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long đắp đê bao ngăn lũ để tăng từ hai lên ba vụ lúa/năm. Chính con người đã can thiệp quá sâu vào hệ thống điều hòa của thiên nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long. “Đồng bằng được thiên nhiên “thiết kế” rất tài tình với ba “túi nước điều hòa” cũng là “mạch máu” chính của sông Mê Công gồm: Biển hồ Tôn-le Sap ở Cam-pu-chia, hai vùng trũng Tứ Giác Long Xuyên rộng 590.000 ha và Đồng Tháp Mười rộng 700.000 ha của Việt Nam. Khi nước lũ sông Mê Công từ thượng nguồn đổ về, đến Cam-pu-chia sẽ chảy vào hồ Tôn-le Sap làm hồ này rộng lên gấp năm lần, từ 300.000 ha lên 1.500.000 ha, rồi về Việt Nam chảy vào Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười, ngập sâu đến ba mét. Mùa lũ thì cất giữ nước trong “túi” làm cho lũ hiền hòa hơn, không gây ngập lụt nhà cửa, vườn tược. Mùa khô thì nhả nước ra sông để đẩy mặn và tưới tiêu”, ông Thiện phân tích.

Ông Thiện cũng chỉ ra rằng, từ năm 2000 – 2011, khả năng trữ nước lũ của Tứ Giác Long Xuyên đã giảm từ 9,2 tỷ mét khối xuống còn 4,5 tỷ mét khối. “Nguyên nhân là do 1.100 km2 ô đê bao khép kín của vùng này đã khiến 4,7 tỷ mét khối nước lũ không vào được nội đồng, vừa mất lượng phù sa bồi đắp cho đất, vừa làm tăng ngập không cần thiết ở các đô thị. Đó là chưa tính đến Đồng Tháp Mười. Để bảo đảm sản xuất bền vững, chỉ nên trồng hai vụ lúa đông xuân và hè thu/năm, để lũ tự nhiên vào đồng ruộng và khai thác thủy sản tự nhiên”, ông Thiện đưa ra giải pháp.

Đi qua cơn hạn hán, người nông dân đồng bằng sông Cửu Long vẫn đang chờ những quyết sách hợp lý của các cơ quan chức năng.

Có thể bạn quan tâm