Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện, vững chắc cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đi vào nề nếp, thống nhất, hiệu quả và tiếp tục khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Song, trước sự vận động không ngừng của đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về công tác hòa giải ở cơ sở tại các Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW… và trong bối cảnh tổ chức bộ máy nhà nước vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, việc sửa đổi toàn diện Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 trở thành một yêu cầu cấp thiết.
Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và tạo hành lang pháp lý thúc đẩy công tác hòa giải ở cơ sở trong xu hướng tăng cường các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, Bộ Tư pháp đã nghiên cứu và đề xuất các chính sách cơ bản để xây dựng dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị tham vấn về hồ sơ chính sách dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), ngày 12/3/2026. Hội nghị do ông Cù Thu Anh, Cục trưởng Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý và bà Ngô Quỳnh Hoa, Phó Cục trưởng Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý chủ trì, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện thường trực Hội đồng Dân tộc, các bộ, ngành, tổ chức đoàn thể, một số Sở Tư pháp và hòa giải viên ở cơ sở nhằm góp ý hoàn thiện hồ sơ chính sách của dự án Luật.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, địa vị, phạm vi tham gia và đặc biệt quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở chưa được quy định rõ ràng, cụ thể. Do đó, việc mời cá nhân có uy tín, kiến thức pháp luật, kiến thức chuyên ngành hoặc kiến thức xã hội… tham gia hòa giải hoặc tư vấn, hướng dẫn cho hòa giải viên giải quyết vụ việc rất hạn chế, chưa huy động được nguồn lực xã hội hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Vì vậy, cần thiết làm rõ địa vị pháp lý, phạm vi tham gia và quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở, từ đó bảo đảm và tăng cường sự tham gia của người có uy tín, người có chuyên môn pháp luật, kiến thức xã hội, người hiểu phong tục, tập quán địa phương trong hoạt động hòa giải ở cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở.
Trên cơ sở đó, hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) dự kiến bổ sung quy định về địa vị pháp lý, phạm vi tham gia cũng như quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hoà giải ở cơ sở nhằm khuyến khích, tăng cường trách nhiệm của người được mời tham gia hòa giải. Cụ thể, chính sách mới tập trung xác định rõ địa vị pháp lý của người được mời tham gia hòa giải ở hai tư cách, một là trực tiếp tham gia vụ, việc hòa giải, hai là tư vấn, hỗ trợ về chuyên môn (pháp luật, xã hội, tập quán, kỹ năng…) cho hòa giải viên; xác định quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở nhằm khuyến khích, tăng cường trách nhiệm của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 không quy định về giá trị pháp lý của kết quả hoà giải thành, chưa quy định thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận hòa giải thành, chưa tương thích với quy định về công nhận kết quả hòa giải thành trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vì thế, nhiều người dân (thậm chí cả hòa giải viên) chưa biết đến quy định này để thực hiện sau khi hòa giải thành, đã dẫn đến tình trạng nhiều vụ việc dù đã hòa giải xong nhưng vẫn phát sinh tranh chấp mới hoặc khởi kiện ra tòa án, gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm giảm hiệu lực, hiệu quả của công tác hòa giải ở cơ sở.
Trước tình hình đó, hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) dự kiến bổ sung chính sách của Nhà nước về việc khuyến khích các bên tham gia hoà giải ở cơ sở yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận kết quả hoà giải thành. Đồng thời, rà soát, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoà giải, quy định về tiến hành hoà giải, thực hiện hoà giải thành nhằm thực hiện lập văn bản hoà giải thành và thực hiện thoả thuận hoà giải thành… Cụ thể, các bên có quyền yêu cầu hòa giải viên lập văn bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành để phục vụ cho mục đích của mỗi bên.
Trường hợp đạt được thỏa thuận thì văn bản hòa giải thành là căn cứ để các bên thực hiện thỏa thuận hòa giải thành và yêu cầu Toà án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hoà giải thành; trường hợp không đạt được thỏa thuận, văn bản hòa giải không thành có thể là một trong những tài liệu để các bên sử dụng vào quá trình đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ, việc. Bên cạnh đó, một bên hoặc các bên tham gia hoà giải có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận kết quả hoà giải thành. Việc yêu cầu và công nhận kết quả hoà giải thành thực hiện theo quy định của pháp luật.
Pháp luật hiện hành chưa quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hòa giải ở cơ sở dẫn đến thực tế hoạt động hòa giải ở cơ sở hiện vẫn chủ yếu dựa vào phương thức thủ công, sử dụng nhiều giấy tờ, gây tốn kém, khó khăn trong lưu trữ, tra cứu và quản lý thông tin.
Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 chưa quy định trách nhiệm của Tòa án nhân dân về công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở để thống nhất với quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đồng thời, trong bối cảnh thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, để kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, thông suốt trong hoạt động của tổ chức bộ máy, ngày 11/6/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, theo đó, đã phân định thẩm quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã thực hiện một số nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong công tác hoà giải ở cơ sở. Trên cơ sở đó, hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) cần thiết phải xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc tham gia công tác hoà giải ở cơ sở đặt trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoà giải, góp phần giữ gìn đoàn kết cộng đồng và ổn định trật tự xã hội.
Trọng tâm quy định cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở; trách nhiệm của Toà án nhân dân. Cụ thể, bổ sung trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao trong việc chỉ đạo, hướng dẫn Toà án nhân dân các cấp thực hiện thủ tục công nhận kết quả hoà giải thành ngoài tòa án; tạo điều kiện cho đội ngũ thẩm phán, các cá nhân thuộc phạm vi quản lý tham gia hỗ trợ công tác hoà giải ở cơ sở; chỉ đạo, hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp phối hợp với cơ quan tư pháp cùng cấp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải cho đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở. Đồng thời, chính sách này cũng xác định rõ trách nhiệm các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác hòa giải ở cơ sở.
Theo kế hoạch, dự thảo hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) sẽ trình Chính phủ tháng 4/2026. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện các chính sách của dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Trên cơ sở ý kiến của thành viên Chính phủ, Bộ Tư pháp sẽ hoàn thiện các chính sách và tiến hành soạn thảo dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở bảo đảm trình Quốc hội khóa XVI kỳ họp thứ hai.