Chuẩn bị sẵn sàng triển khai Nghị định 46

Bộ Y tế vừa có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẩn trương chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai Nghị định số 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP về quản lý an toàn thực phẩm, dự kiến chính thức có hiệu lực từ ngày 16/4/2026.

Các xe container chở hàng hóa nông sản thông quan tại Cửa khẩu quốc tế Hữu nghị (Lạng Sơn) ngày 5/2. (Ảnh MAI PHƯƠNG)
Các xe container chở hàng hóa nông sản thông quan tại Cửa khẩu quốc tế Hữu nghị (Lạng Sơn) ngày 5/2. (Ảnh MAI PHƯƠNG)

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 46 (ngày 26/1/2026) và Nghị quyết số 66.13 (ngày 27/1/2026) nhằm cụ thể hóa thi hành Luật An toàn thực phẩm, đồng thời chuẩn hóa quy trình công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, để bảo đảm điều kiện thực thi đồng bộ, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP (ngày 4/2/2026), tạm ngưng hiệu lực hai văn bản trên đến hết ngày 15/4/2026.

Đây là bước điều chỉnh cần thiết về lộ trình nhằm tạo điều kiện để các địa phương chuẩn bị đầy đủ nguồn lực, tổ chức thực hiện thống nhất, đồng bộ khi các quy định chính thức có hiệu lực.

Tháo gỡ vướng mắc

Theo đề nghị của Bộ Y tế tại Văn bản số 1222/BYT-ATTP, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần phân công rõ cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm; rà soát và chỉ định các cơ sở kiểm nghiệm đủ năng lực phục vụ quản lý.

Tinh thần chỉ đạo xuyên suốt là thực hiện nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian và rõ kết quả. Trong quản lý nhà nước, đặc biệt ở lĩnh vực có tính liên ngành cao như an toàn thực phẩm, nếu thiếu sự phân định cụ thể, nguy cơ đùn đẩy trách nhiệm và phát sinh thủ tục trung gian là rất lớn. Do đó, việc xây dựng danh mục nhiệm vụ cụ thể theo nguyên tắc này không chỉ là yêu cầu hành chính mà còn là giải pháp phòng ngừa rủi ro quản lý.

Một nội dung quan trọng khác là công khai, minh bạch thông tin. Danh sách cơ quan kiểm tra và cơ sở kiểm nghiệm phải được niêm yết trên trang thông tin điện tử của địa phương. Hiện Bộ Y tế đã công bố sáu cơ quan kiểm tra thực phẩm nhập khẩu và 27 cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định trên cổng thông tin của Bộ. Việc công khai này giúp doanh nghiệp tra cứu, thực hiện thủ tục đúng địa chỉ, giảm chi phí tuân thủ và hạn chế phát sinh tiêu cực.

Cùng với đó, yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp được đặt ra rõ ràng: áp dụng các biện pháp cần thiết để thông quan nhanh chóng, tránh tình trạng ách tắc, ùn ứ hàng hóa tại cửa khẩu. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan kiểm tra nhà nước, cơ sở kiểm nghiệm và lực lượng hải quan, bảo đảm vừa kiểm soát an toàn thực phẩm, vừa không làm gián đoạn hoạt động xuất nhập khẩu...

Đổi mới về tư duy quản lý chất lượng

Trước đó, vào cuối tháng 2/2026, tại cuộc họp do Thứ trưởng Y tế Đỗ Xuân Tuyên và Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung đồng chủ trì đã tiến hành rà soát các kiến nghị liên quan đề xuất sửa đổi Nghị định số 46 và Nghị quyết số 66.13.

Dù được lùi thời điểm thi hành Nghị định số 46, song đại diện các hiệp hội doanh nghiệp cho rằng, sau mốc 15/4, nếu không có những sửa đổi căn cơ về mặt luật pháp, nhất là sửa đổi Luật An toàn thực phẩm để đồng bộ hóa các văn bản dưới luật, môi trường kinh doanh sẽ tiếp tục đối mặt với sự bất định.

Ông Bùi Quang Tuấn, Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham) kiến nghị Chính phủ miễn công bố hợp quy và kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với nguyên liệu, phụ gia, bao bì nhập khẩu chỉ để sản xuất nội bộ, không lưu thông trên thị trường. Đồng thời, cần cho phép sử dụng các chứng chỉ quốc tế như HACCP, ISO 22000 để thay thế cho Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm - vốn đang là rào cản lớn với các nhà cung cấp nước ngoài.

Đồng quan điểm, bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, đưa ra cảnh báo về sự quá tải của bộ máy địa phương khi quy trình kiểm tra bị kéo dài từ hai cấp lên ba cấp. Bà kiến nghị cần rà soát lại năng lực thực thi của cơ quan chuyên môn trước khi áp dụng và phải chuyển mạnh sang hậu kiểm dựa trên quản trị rủi ro, thay vì tiền kiểm dàn trải trên diện rộng.

Với ngành hồ tiêu và gia vị, bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam, đề xuất không coi hàng xuất khẩu bị trả về là hàng nhập khẩu thông thường để giảm bớt thủ tục. Đồng thời, cần áp dụng phân loại doanh nghiệp theo “luồng xanh, luồng đỏ” dựa trên lịch sử tuân thủ để giảm gánh nặng hành chính cho các đơn vị làm ăn uy tín.

Bà Nguyễn Thị Hồng Minh, Hiệp hội Thực phẩm minh bạch, nhấn mạnh sự cần thiết của việc thừa nhận các phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn ISO 17025, thay vì bắt buộc phải là phòng thí nghiệm do Nhà nước chỉ định. Việc quản lý nên tập trung vào kiểm soát hệ thống, thay vì lấy mẫu kiểm nghiệm lô hàng vốn không đại diện được toàn bộ chất lượng.

Theo bà Lý Kim Chi, những khó khăn trên không chỉ nằm ở yếu tố thời điểm mà nằm ở chính cách tiếp cận quản lý. Nhiều nội dung chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp và chưa tiệm cận với thông lệ quốc tế. Vì vậy, Chính phủ xem xét chỉ đạo Bộ Y tế và các Bộ liên quan khẩn trương rà soát, sửa đổi một cách căn cơ cả Nghị định số 46 và Nghị quyết số 66. “Nếu khung luật gốc chưa hoàn thiện mà các quy định dưới luật liên tục thay đổi, mỗi lần điều chỉnh sẽ tạo ra một đợt xáo trộn mới cho doanh nghiệp và chính cơ quan quản lý”, bà Chi nêu quan điểm.

Điều cần thiết là sự chủ động của từng địa phương, sự phối hợp liên ngành và tinh thần trách nhiệm của mỗi cơ quan được giao nhiệm vụ. Khi nguồn lực, bộ máy và quy trình được chuẩn bị đầy đủ, việc thực thi Nghị định số 46 và Nghị quyết số 66.13 sẽ bảo đảm thông suốt, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, đồng thời tạo môi trường minh bạch, ổn định cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm ■

Tính đến ngày 25/2/2026, Ban soạn thảo đã nhận được ý kiến phản hồi từ 16 bộ, ngành, địa phương và 11 hiệp hội, doanh nghiệp liên quan Nghị định số 46 và Nghị quyết số 66.13. Những nội dung được thảo luận gồm trình tự, thủ tục đăng ký bản công bố hợp quy; thời hạn bản công bố; giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu; công bố tiêu chuẩn áp dụng; và một số vướng mắc kỹ thuật như mẫu phiếu kết quả kiểm nghiệm đối với cơ sở kiểm nghiệm nước ngoài.

Có thể bạn quan tâm