- Xin ông cho biết, đâu là nguyên nhân chính khiến diện tích rừng tự nhiên ở Tây Nguyên suy giảm nghiêm trọng?
- Có thể kể đến một số nguyên nhân chính như: Gia tăng dân số nhanh, đặc biệt tăng cơ học do dân di cư tự do làm tăng nhu cầu đất ở và đất canh tác, tạo sức ép lớn lên tài nguyên rừng tại khu vực Tây Nguyên. Sức ép về phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là nhu cầu đất để trồng cây công nghiệp, cây nông nghiệp có giá trị kinh tế ngày càng cao. Công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn, nhiều chủ rừng, chính quyền cơ sở chưa quan tâm, chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao, chưa chỉ đạo quyết liệt trong quản lý bảo vệ rừng. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chưa đáp ứng được nhu cầu; việc thực hiện giao đất, giao rừng ở Tây Nguyên chậm. Công tác sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn, vướng mắc…
- Việc giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nhằm mục tiêu quản lý bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng bền vững ở Tây Nguyên trong thời gian qua có đạt được kết quả như kỳ vọng?
- Chủ trương giao rừng đã tạo điều kiện để các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có đất sản xuất, tham gia các chương trình, dự án bảo vệ và phát triển rừng, từ đó từng bước nâng cao đời sống, ổn định sinh kế ở khu vực Tây Nguyên. Theo kết quả công bố hiện trạng rừng các tỉnh Tây Nguyên năm 2021, đến nay, kết quả giao rừng đạt hơn 70%; trong đó hộ gia đình, cộng đồng đạt hơn 3,5%.
Trong quá trình thực hiện chủ trương còn bộc lộ một số hạn chế, cụ thể: Tiến độ thực hiện việc giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp còn chậm, đặc biệt là nội dung giao rừng đối với diện tích hiện đang được UBND xã tạm quản lý; hầu hết các diện tích rừng chưa được giao, cho thuê đều có vị trí địa lý xa khu dân cư, khó tiếp cận, khó quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; diện tích rừng đang có chồng lấn, tranh chấp, chưa xác định rõ mốc giới, diện tích và hiện trạng rừng; kinh phí cho kiểm kê, đánh giá hiện trạng rừng, cắm mốc, phân ranh đối với diện tích rừng chưa giao, cho thuê không có hoặc rất hạn chế, việc triển khai giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất, cho thuê đất chưa được thực hiện đồng bộ, thống nhất…
- Nhân lực giữ rừng, bảo vệ rừng đang bị thiếu hụt, khiến cho nhiệm vụ của lực lượng này càng trở nên khó khăn. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn tới thực trạng này?
- Diện tích rừng cả nước là 14,68 triệu ha trong khi đó lực lượng Kiểm lâm Việt Nam hiện có 11.796 người cùng với 8.178 người thuộc lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng của chủ rừng.
Nguyên nhân dẫn tới việc thiếu hụt nhân lực tham gia bảo vệ rừng là do: Việc tuyển dụng công chức kiểm lâm ở nhiều địa phương đang gặp khó khăn, so với chỉ tiêu biên chế được giao vẫn còn 1.070 chỉ tiêu biên chế chưa tuyển dụng được. Địa bàn làm việc rộng. Có kiểm lâm địa bàn phụ trách 3-4 xã, vùng sâu vùng xa, đường sá đi lại khó khăn, nguy hiểm, thường xuyên "giáp mặt" với "lâm tặc" - manh động, chống đối, kích động. Chế độ, chính sách chưa tương xứng với tính chất công việc, không bảo đảm đời sống của lực lượng bảo vệ rừng. Kinh phí đầu tư cho hoạt động, trang thiết bị làm việc, trang phục, công cụ hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ rừng còn hạn chế…
- Để bảo vệ hiệu quả diện tích rừng tự nhiên ở Tây Nguyên, giải pháp cấp thiết đặt ra là gì, thưa ông?
- Thực trạng trên đòi hỏi có giải pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc hiện nay, đó là: Ngăn chặn và xử lý dứt điểm tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, mua bán vận chuyển lâm sản trái pháp luật, chống người thi hành công vụ.
Đẩy mạnh công tác giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nhằm mục tiêu quản lý bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng bền vững. Thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách hiện hành, xây dựng một số cơ chế, chính sách mới: chính sách lâm nghiệp đặc thù vùng Tây Nguyên, hình thành hệ thống quản lý rừng theo hình thức lâm nghiệp cộng đồng trên cơ sở giao rừng cho hộ gia đình, nhóm hộ, buôn làng xem xét cơ chế liên kết, liên doanh giữa doanh nghiệp với hộ gia đình để phát triển rừng.
Cần có chính sách đãi ngộ phù hợp cho lực lượng kiểm lâm, lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, các lực lượng tham gia bảo vệ rừng khác để giải quyết bài toán thiếu nguồn nhân lực trầm trọng như hiện nay.
Hoàn thiện hệ thống hạ tầng lâm nghiệp, kết hợp nâng cao đời sống người dân, giải quyết kịp thời tình trạng di cư tự do. Tập trung giải quyết vấn đề sinh kế của người dân sống gần rừng để giảm áp lực lên rừng là một trong những biện pháp căn cơ để ngăn chặn tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái phép còn diễn ra ở một số địa phương, thực hiện nghiêm lệnh đóng cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ.
Thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý nhà nước về lâm nghiệp của Ủy ban nhân dân các cấp quy định tại Điều 102, Luật Lâm nghiệp; Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/1/2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; trong đó quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp tại các địa phương chịu trách nhiệm về cháy rừng, phá rừng hoặc mất rừng do hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng gây ra thuộc phạm vi lĩnh vực, địa bàn quản lý.
- Trân trọng cảm ơn ông!
Tính đến hết năm 2021, các tỉnh khu vực Tây Nguyên đã thực hiện chuyển mục đích sử dụng rừng để thực hiện 61 dự án thủy điện. Tổng diện tích rừng phải trồng thay thế là 8.007,53 ha, hiện đã trồng được 6.661,61 ha đạt 81,3% tổng diện tích phải trồng (cụ thể: tỉnh Kon Tum 1.185,46 ha, đạt 100%; tỉnh Gia Lai 656,77 ha, đạt 92,59%; tỉnh Đắk Lắk 218,89 ha, đạt 100%; tỉnh Đắk Nông 2.455,32 ha, đạt 77,55%; tỉnh Lâm Đồng 2.145,17 ha, đạt 78,64%).