"Của khoe không bằng cách khoe"

Trong vòng 10 năm trở lại đây, ở nước ta, xuất hiện ngày càng phong phú các loại hình sáng tác mỹ thuật. Vì vậy, thách thức lớn đối với những người làm việc trong lĩnh vực mỹ thuật là tạo ra được những không gian trưng bày tốt, theo hướng chuyên nghiệp, nhằm tạo điều kiện thụ hưởng nghệ thuật tối đa cho công chúng, đồng thời làm tăng sức hấp dẫn của nghệ thuật đối với giới đầu tư, sưu tập nói riêng.
Không gian trưng bày ngoài trời tại Bảo tàng Nghệ thuật đương đại Flamingo. Ảnh: FCAM
Không gian trưng bày ngoài trời tại Bảo tàng Nghệ thuật đương đại Flamingo. Ảnh: FCAM

Thiếu và không phù hợp

Lâu nay, mỹ thuật đã không còn chỉ là tranh treo tường, tượng bày trong phòng và tượng đài nữa, mà còn bao gồm nhiều hình thức nghệ thuật đương đại như nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn, video art, body art, các hình thức nghệ thuật đa phương tiện... Sự đa dạng của các loại hình sáng tác mỹ thuật đồng thời đòi hỏi nhiều thay đổi trong cách thức trưng bày và giới thiệu chúng đến với công chúng.

Ở nước ta hiện nay, triển lãm mỹ thuật cấp quốc gia do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì có ba mô hình: Triển lãm Điêu khắc toàn quốc, định kỳ 10 năm, gần đây nhất là 2003-2013; Triển lãm Mỹ thuật Việt Nam định kỳ 5 năm và từ 2020 là định kỳ ba năm; Festival Mỹ thuật trẻ định kỳ ba năm. Ít nhất là từ năm 2010 trở lại đây, cả ba mô hình này, đến mỗi kỳ triển lãm, đều vấp phải bài toán nan giải: bày ở đâu và bày như thế nào cho hàng trăm tác phẩm vô cùng đa dạng về kích thước, chất liệu, hình thức.

Triển lãm mỹ thuật cấp quốc gia gần đây nhất là Triển lãm Mỹ thuật Việt Nam 2020, diễn ra tại Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam (Hà Nội). Đây có lẽ cũng là triển lãm mà công tác trưng bày tác phẩm thật sự bộc lộ nhiều vấn đề. Khu vực trưng bày khá rộng rãi, bao gồm bảy tầng nhà, mỗi tầng có diện tích mặt sàn hơn 300m2, chưa kể hai sảnh và nhiều vách ngăn phụ được dựng tạm để treo tranh, bày tượng, đưa tổng diện tích trưng bày ước tính lên đến hơn 3.000m2. Nhưng do số lượng sáng tác lớn, hơn 500 sáng tác với kích thước, chất liệu đa dạng nên đem tới cảm giác chung là hết sức rối mắt. "Đó là một không gian tạm thời cho triển lãm nên không có hệ thống ánh sáng, tường vách chuyên nghiệp. Sự trình bày tác phẩm vẫn theo một mô hình đơn giản, sơ sài, hoặc theo yếu tố chất liệu sáng tác, hoặc một vài yếu tố vùng miền, phong cách rất đại trà, đủ mặt"– bà Dương Thu Hằng, phụ trách Hanoi Studio, nhận xét. Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam được xây dựng lại từ hơn 20 năm trước, công năng sử dụng của nó dành cho đa dạng hoạt động văn hóa và hội chợ hơn là chuyên biệt dành cho trưng bày nghệ thuật thị giác. Còn nhớ, để thi công được triển lãm QUOBO–nghệ thuật đương đại từ Cộng hòa liên bang Đức tại địa chỉ này vào đầu những năm 2000, nhóm thực hiện triển lãm đến từ Đức đã phải mất nhiều tháng để sắp xếp, bài trí lại toàn bộ không gian liên quan.

Mỹ thuật cũng là lĩnh vực duy nhất ở Việt Nam hiện nay có bảo tàng chuyên ngành cấp quốc gia (xếp hạng I). Tọa lạc trên khu đất vàng của thủ đô (ngã tư Nguyễn Thái Học-Văn Miếu, quận Ba Đình) với diện tích xấp xỉ 4.700m2, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có gần 2.000 hiện vật trưng bày thường xuyên, trong đó có chín hiện vật thuộc danh mục Bảo vật quốc gia. Bên cạnh đó, Bảo tàng còn có gần 20.000 hiện vật lưu trữ trong kho. Riêng khu vực lưu trữ và phục chế hiện vật (thuộc cơ sở 2 của Bảo tàng), cũng được tọa lạc trên một khu đất đẹp và có diện tích hàng nghìn m2, cách cơ sở 1 khoảng 2,5-3km.

Tuy nhiên, đại diện của Bảo tàng cho biết: "Bảo tàng có kế hoạch hằng năm về công tác chỉnh lý trưng bày nhưng chỉ là những chỉnh lý nhỏ, kết cấu trưng bày cơ bản vẫn từ năm 2000. Các phần trưng bày thường xuyên không có thay đổi gì nhiều, ngoại trừ việc cho tạm nghỉ những bức tranh xuống cấp trầm trọng và thay mới khung bục trưng bày, bổ sung phụ kiện trưng bày. Việc chỉnh lý cũng được làm dần từng bước vì kinh phí eo hẹp". Vị đại diện này cũng cho biết thêm, hiện nay, mật độ treo tranh quá dày, không có điểm nghỉ, khoảng thở và cần có những phụ kiện trưng bày hiện đại hơn, thông tin về tác phẩm đi cùng trưng bày nói chung còn sơ sài, chưa kể đến thực trạng khác là tranh bày nhiều và phơi mặt tranh trực tiếp nên khi số lượng khách quá đông, khó bề kiểm soát ý thức "tương tác" với tác phẩm của họ, dẫn đến nhiều rủi ro cho việc bảo vệ tác phẩm.

Cần tầm nhìn chiến lược từ chính sách vĩ mô

Trong khi đó, khác hẳn với những định chế nhà nước, do nhìn thấy tiềm năng to lớn về giá trị và trị giá của nghệ thuật, nhiều tư nhân hoặc nhóm tư nhân đã mạnh dạn đầu tư cho mỹ thuật thông qua việc thành lập, vận hành các không gian theo hướng chuyên nghiệp, tuân thủ những nguyên tắc hoạt động mang tiêu chuẩn chung của thế giới. Họ nhanh chóng nắm bắt cơ hội về nhân lực thế hệ mới được đào tạo bài bản hơn hoặc năng động hơn trong việc cập nhật kiến thức khoa học chuyên ngành.

Trong vòng năm, bảy năm qua, sự ra đời của Trung tâm nghệ thuật đương đại Vincom (VCCA, Hà Nội), Bảo tàng nghệ thuật đương đại Flamingo (Vĩnh Phúc), Trung tâm nghệ thuật đương đại The Factory (TP Hồ Chí Minh), dự án Phố bên đồi (Đà Lạt, Lâm Đồng) cùng nhiều không gian nghệ thuật lớn nhỏ khác, đặc biệt là các địa chỉ kinh doanh không gian làm việc chung (co-working space)... là những định chế mới nổi rất đáng chú ý. Một số sự kiện triển lãm của nhà nước, do Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) chủ trì thực hiện cũng đã được trưng bày tại VCCA, nơi được đánh giá là có cơ sở vật chất tốt nhất cho trưng bày mỹ thuật chuyên nghiệp hiện nay ở thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, một vấn đề đáng chú ý là các không gian trưng bày nghệ thuật của tư nhân ở Việt Nam, do bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan, hoàn toàn có thể đóng cửa, tạm đóng cửa, rời chuyển đến một nơi chốn khác. Họ chỉ có thể chịu trách nhiệm với các quan hệ cá nhân của họ chứ không thể khoác cho họ một vai trò xã hội nhất định như các định chế nghệ thuật của nhà nước, có sử dụng ngân sách hay quỹ tài trợ từ chính phủ. Đây chính là một bất lợi cho sự phát triển của đời sống mỹ thuật. Sự tạm dừng hoạt động chưa hẹn ngày trở lại của The Factory (TP Hồ Chí Minh) từ đầu năm 2022, gây xôn xao trong giới mỹ thuật, là một thí dụ sinh động.

Trong đầu tư cho văn hóa nghệ thuật nói chung, mỹ thuật nói riêng, hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhà nước luôn đóng vai trò dẫn dắt, điều hướng. Một thí dụ điển hình là khi một nghệ sĩ được Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam sưu tập tác phẩm, cho dù trị giá của nó khó có thể so sánh với giá trên thị trường, vẫn luôn là vinh dự lớn cho nghệ sĩ, góp phần quan trọng trong việc khẳng định danh tiếng và nâng cao vị thế của nghệ sĩ trong giới chuyên môn và cả với công chúng.

Chính vì vậy, thiết nghĩ, chất lượng trưng bày mỹ thuật ở Việt Nam cần được cải thiện càng sớm càng tốt và điểm phóng chiếu đầu tiên về vai trò dẫn dắt của định chế nhà nước trong lĩnh vực này chính là từ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Trong chia sẻ với chúng tôi, đại diện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nhấn mạnh: "Học tập các bảo tàng nghệ thuật cấp quốc gia trên thế giới và chọn lọc những gì phù hợp với điều kiện Việt Nam để áp dụng, với mong muốn gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa của cha ông là mục đích chung của các cán bộ làm Bảo tàng". Tuy nhiên, để mong muốn đó trở thành hiện thực, tính chuyên nghiệp trước tiên cho phần trưng bày thường xuyên của Bảo tàng hiện nay cần được cải thiện càng sớm càng tốt, bắt đầu từ một kế hoạch đổi mới trưng bày thường xuyên ở quy mô lớn, đem tới diện mạo mới và sự cải thiện chất lượng hoạt động chuyên môn cho bảo tàng. Bên cạnh đó, trưng bày chín bảo vật quốc gia cần được đầu tư phần nhận diện, tối thiểu là bảng ghi chú thông tin về hiện vật (étiquette) với quy cách riêng... Những việc này đòi hỏi một nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước theo hướng đặc thù. Gần đây, có so sánh tại sao Bảo tàng Mỹ thuật cấp quốc gia mà lại chưa thể thực hiện được một trưng bày các tác phẩm mỹ thuật thời kỳ Đông Dương thật đẹp và sang trọng như có một nhà đấu giá nước ngoài đã làm tại TP Hồ Chí Minh, tháng bảy vừa qua. Nhưng với những quy định chung lâu nay về ngân sách cho hoạt động triển lãm chuyên đề, nghiên cứu sưu tầm tại hệ thống bảo tàng công lập, sẽ thật khó thực hiện được. Những giới hạn về ngân sách cũng là nguyên do chính dẫn đến việc cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thể có được một hoặc một số trung tâm trưng bày triển lãm mỹ thuật tương xứng với vị thế quốc gia, do nhà nước đầu tư, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với thế giới-điều mà các cơ quan liên quan ấp ủ từ nhiều năm trước.

Cần phải nhắc lại là trong Quyết định số 1755/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ban hành ngày 8/9/2016, phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, có ghi rõ: "Mục tiêu đến năm 2030, ngành Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm thu về khoảng 125 triệu USD". Mục tiêu ấy hoàn toàn khả thi nếu có một sự quan tâm đồng bộ dành cho hoạt động này, trong đó, cần phải có một hệ thống các địa chỉ trưng bày, triển lãm nghệ thuật chuyên nghiệp là rất cấp thiết.