Cửa bể chiều hôm - Truyện ngắn của NGUYỄN NGỌC PHÚ

Buồn trông cửa bể chiều hôm Nguyễn Du Quán rượu của O Tam mù lúc nào cũng đông khách, phần lớn là khách quen. Quán ở gần bến, thuyền câu về cập bờ chỉ nhảy ba bước đã có thể cụng bát với nhau rồi. Rượu ở đây ngon, rượu nếp của dân chuyên nấu bằng mạch nước nguồn.

Giếng nước trong văn vắt, rượu sủi tăm như mắt mèo đựng trong hũ sành nút bằng lá chuối khô càng để lâu càng ngọt. Thứ 'cao gạo' này uống vào cứ lịm dần, lịm ở đầu lưỡi, lịm lên con mắt rồi thấm dần từng tế bào, cả cơ thể ngấm trong rượu từ chân lông, kẽ tóc, giấc ngủ cũng lịm đến. Cũng men ấy, cũng công thức pha chế ấy, cũng nếp lứt, cũng ủ như thế nhưng hễ thay nước ở làng khác là rượu đã biến chất rồi. Dân chợ huyện nhà nhà nấu rượu và nuôi lợn rất nhiều, con nào cũng béo nung núc, lông mượt nằm chềnh ềnh phơi bụng bên những bờ tre lót bằng lá tre khô. Chúng không thèm dũi mũi vào các bụi môn, bụi khoai. Lợn được nuôi bằng hèm rỗng ruột chóng lớn. Vì thế ở làng này có một nghề khá phổ biến nữa là mổ lợn. Ðàn ông người nào mặt cũng hum húp nặng trịch, ra đường chỉ thấy cúi gằm nhìn xuống, ngồi uống rượu tay cứ xoa xoa như thói quen hai tay hai dao mài vào nhau trước lúc chọc tiết lợn.

O Tam mù từ nhỏ. Trước o là anh Nhất, anh Nhì đều hy sinh ở chiến trường. Hồi các anh ấy ở nhà thường dắt o đi chơi ra sân đình xem chợ. O chỉ nghe tiếng người mua bán mặc cả nhau đã hình dung ra được chỗ nào bán trầu, chỗ nào bán hàng xén. Vui nhất vẫn là nơi bán cá. Con gái làng biển vừa bán, vừa đếm. Họ đếm lạ lắm. Một chục thì đếm thành mười một con, gọi là chục chẵn, mười con mới là chục trụi. Rồi họ đếm bằng tiếng lóng nữa, nghe cứ như hát vậy mà chưa có sai bao giờ. Khác với các cô gái làng biển da ngăm đen, chân đi vòng kiềng, người cứ chúi về phía trước, dáng thâm thấp, nặng chình chịch - O Tam người dỏng cao, nước da trắng và cái miệng cười thật xinh có cái lúm đồng tiền, duyên đáo để. Những lúc o ăn trầu, hai gò má ửng hồng, khối cô mắt mũi đàng hoàng phải thua xa. Giọng o nói nhỏ nhẹ bên những người đàn ông quen 'ăn sóng nói gió' sừng sững chắc nịch như dãy núi Nam Giới. O Tam giống như khe nước Hao Hao mát rượi làm chùng lại những bắp gân nổi cuồn cuộn như những múi dây chăng buồm: O Tam rót rượu thật tài. Rót từ hũ vào những chiếc chai thủy tinh mầu xanh hơi đục, đế in chữ nổi có từ thời Pháp thuộc, o bảo thế. Rượu rót đố nhểu ra ngoài một giọt. O lấy rượu quen 'thổ', chỉ nhấp nhấp một chút là biết được chất lượng. Những buổi tối sau khi đám khách chân nọ đá chân kia xiêu vẹo bá vai nhau xuống thuyền đánh một giấc dài cho các bà 'nội trợ' cầm lái ra đến rạo là vừa sáng - O Tam ngồi tựa cửa vào vách tường trên bộ phản gỗ mun láng bóng có thể soi gương được. Cả ngày, người o như được ướp trong hơi rượu thơm nồng và không khí bỗ bã của đám thực khách bây giờ như muốn được rũ bỏ bằng cách nhấp từng ngụm nhỏ bát rượu được đựng riêng trong cái hũ sành giấu dưới góc chân phản. O đang nhấm nháp mình. Thỉnh thoảng tiếng thạch sùng tặc lưỡi, bầy chuột rúc rích và con mèo mun lặng lẽ trườn vào lòng o lim dim mắt. O khóc, từ hai khóe mắt rỉ ra những giọt nước nóng hổi rơi xuống lông mèo. Không biết bộ lông mượt và ấm áp đã thấm biết bao nhiêu ký ức buồn tủi của o. Ðám đàn ông đến ồn ào như giông, như bão, o bị cuốn vào chuyện đong đếm đến lúc họ đi, không khí chùng xuống như những ngày biển êm khiến lòng o lại nổi sóng, hụt hẫng. Mà đàn ông cũng kỳ, có những chuyện phải giấu thì họ lại rủ rỉ với nhau khi có hơi men. Tai o thính lắm. O cứ tưởng tượng ra những chuyện kín của họ. Trí tưởng tượng bao giờ cũng bay bổng hơn hiện thực đêm đêm giày vò o. O đâm nghiện mùi mồ hôi nằng nặng, mùi tóc rối, đâm nghiện cả cái chạm tay, chạm vai với da thịt sần sùi. Nhiều khi vuốt vuốt bộ lông mượt của con mèo hay mép phản phẳng lỳ trơn bóng vô hồn, o cứ thèm cấu xé một vật gì đó nóng hôi hổi, xù xì thô nhám. O nhận ra từng người qua giọng nói, qua bước chân và qua mồ hôi mặc dầu chưa có người nào dám sàm sỡ với o kể cả những kẻ nát rượu quen uống chịu và trả bằng cá. Họ quý o, nể o, nhìn o thật thánh thiện từ cái bờ vai thon thả, suối tóc chảy dài.

Trong đám khách uống rượu ấy, O Tam để ý đến một người con trai lơ lớ giọng ngoài bắc. Anh uống rượu một mình lặng lẽ không say, chỉ đến lúc đứng lên trả tiền giọng mới hơi lạc đi. Cứ chập tối là anh đến ngồi một góc, uống chậm cho đến lúc vãn khách. Hỏi dò O Tam mới biết: Người ấy tên là Tuấn - con trai Hà Nội chính cống. Ði bộ đội ở đặc công thủy. Trong một lần đánh tàu ở Cửa Việt anh bị thương. Khuôn mặt khá đẹp trai của anh bây giờ nhăn nhúm, chằng chịt vết sẹo. Mắt, mũi cũng bị biến dạng đi qua hàng chục ca phẫu thuật chỉnh hình. Anh quyết định ở lại làng chài này vì nghe đâu anh có một người bạn chiến đấu quê ở đây đã hy sinh ở chiến trường. Và suốt ngày anh cùng với chiếc thuyền con trên biển. Anh thạo nghề câu lưới. Chỉ đến tối anh mới lên bờ nhờ bóng đêm che đi khuôn mặt dị dạng của mình mà đám trẻ con chưa quen nhìn anh đã khiếp. O Tam lại nghe người ta bảo nhau: Ông Tuấn ấy 'sát cá' lắm; hay cá sợ khuôn mặt của anh. Nghe nói ngày trước, dân đi biển thường lấy nhọ nồi bôi vẽ lên mặt hình thù những con thuồng luồng thè lưỡi ra dọa cá. Một đêm trăng rằm sau khi hết khách, trời đã về khuya. Mùa hè nóng bức bối, O Tam lần ra bến Ðá tắm. Làn nước mát như muôn ngón tay mềm ve vuốt da thịt o. Vẳng lại tiếng gà eo óc gáy. Thoảng thốt, o cởi bộ đồ ngoài và lần ra xa bờ. Hình như o muốn tìm khoái cảm qua làn da mơn man con nước thủy triều sóng sánh ánh trăng. O khỏa tay rẽ nước vào bờ. Quá mải mê, đắm chìm trong những giây phút hòa nhập với thiên nhiên, o tự nhiên bị mất phương hướng và không nhận ra phía bờ nữa. Cứ thế o mon men bước trầy bước trật, nơi sâu nơi cạn. Bỗng nhiên o bị hẫng và rơi vào ven nước chảy của lạch sông. O chới với định kêu lên nhưng nhận ra mình đang ở trần nên lưỡi o líu lại. O đạp nước tung tóe như con cá bị mắc câu. Nước xô vào mũi cuốn o đi. O chỉ còn kịp nghe tiếng mái chèo mơ hồ đâu đó đập nước cạnh mình rồi lịm dần.

Người đến kịp thời cứu O Tam chính là Tuấn. Từ lâu, Tuấn đã để ý đến o. Vừa ngồi uống rượu, Tuấn vừa ngắm nhìn o, nhận ra ở O Tam có nét gì quen quen như đã gặp ở đâu đó rồi mà không sao nhớ nổi. Nhà Tuấn ở cạnh hồ Thiền Quang. Ngày nhỏ Tuấn say mê câu cá. Ðêm xuống, Tuấn xách chiếc cần câu cùng ít mồi làm bằng mắm tôm luyện với bột giã viên nhỏ như kẹo mắc vào lưỡi câu uốn bằng dây thép mảnh đi câu trộm cá hồ. Có hôm, câu mãi chẳng được con cá nào, Tuấn đang bực mình thì nghe tiếng thở hổn hển. Ngoái lại đằng sau thấy một cặp đang mắc câu xoắn xuýt vào nhau như rắn trên bãi cỏ dưới chân chiếc ghế đá. Thì ra một ả điếm đã 'ám' Tuấn từ đầu hôm đến giờ mới bắt được khách. Tuấn vụt đứng dậy đá phăng chiếc giỏ đựng cá xuống hồ, bẻ đôi chiếc cần câu dẻo quánh lùi lụi đi về nhà như một gã 'trê' bẹp đầu vừa thoát nạn. Từ đó Tuấn cạch không ra hồ câu buổi tối nữa. Nhiều lúc bần thần nhớ Hà Nội đến nao lòng nhưng mặt mũi thế này, thôi đành làm gã dân chài; vả lại nhà Tuấn cũng đã nhận được giấy báo tử từ lâu. Trận đánh đó Tuấn cùng với anh Dũng - người con trai làng biển ở vùng này, một con rái cá nổi tiếng được giao nhiệm vụ đánh chiếc tàu chở xăng. Mọi việc diễn ra khá thuận lợi nếu như Tuấn không bị chuột rút, anh Dũng vừa bơi vừa dìu Tuấn. Tốc độ của họ chậm lại. Mìn nổ, cả bồn xăng lớn trên tàu bùng cháy, sáng như ban ngày. Xăng tràn xuống nước rực đỏ như một biển lửa - Tuấn bị bỏng nặng, khuôn mặt cháy xèo xèo. Anh Dũng có tài lặn đã ngụp xuống đẩy Tuấn thoát ra khỏi con rắn lửa đang cuộn tới.                                 

(Còn nữa)