Cơ hội hiện đại hóa pháp luật

Ðể chuẩn bị cho việc thực hiện CPTPP, Việt Nam cần chú trọng những vấn đề gì trong quan hệ lao động và pháp luật? Từ góc nhìn của một chuyên gia quốc tế, ông Chang Hee Lee, Giám đốc văn phòng tổ chức lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam chia sẻ:

Chế biến cá xuất khẩu tại Công ty cổ phần Hùng Vương (Tiền Giang). Ảnh: Quang Tuấn
Chế biến cá xuất khẩu tại Công ty cổ phần Hùng Vương (Tiền Giang). Ảnh: Quang Tuấn

- Hiệp định CPTPP đã dành riêng chương 19 quy định về lao động. Ông có thể cho biết ý nghĩa của chương này đối với Việt Nam?

- Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới yêu cầu tất cả các nước tham gia phải thông qua và duy trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO trong pháp luật, thể chế và thông lệ của họ. Các quyền này được quy định trong tám công ước cơ bản của ILO, với nền tảng là: 1- Tự do liên kết và công nhận hiệu quả quyền thương lượng tập thể; 2- Loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc; 3- Xóa bỏ lao động trẻ em và 4- Xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp.

Tất cả các quốc gia thành viên của ILO, bao gồm Việt Nam, đều phải tôn trọng các quyền này. Ðây được coi là những quyền được ghi nhận trên toàn thế giới trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, hiện Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn ba công ước cơ bản (Công ước số 87, 98 và 105) liên quan đến tự do liên kết, quyền thương lượng tập thể và loại bỏ lao động cưỡng bức.

Chương 19 về lao động của Hiệp định CPTTP dựa trên Tuyên bố năm 1998 của ILO. Chương này cũng đưa ra mối liên hệ giữa việc thực hiện Tuyên bố năm 1998 của ILO với các điều kiện thương mại trong một khuôn khổ thời gian nhất định, bao gồm cả các biện pháp trừng phạt có thể áp dụng.

Bên cạnh ý nghĩa về thương mại, tôi muốn nhấn mạnh rằng Việt Nam nên sử dụng điều này như một cơ hội để hiện đại hóa pháp luật lao động và hệ thống quan hệ lao động trong khung thời gian đã định.

- Theo quan điểm của ILO, Việt Nam đã có những tiến triển như thế nào để chuẩn bị sẵn sàng cho việc thực hiện các quy định về lao động của CPTPP?

- Việt Nam đã công nhận nghĩa vụ này và thực hiện các bước để đáp ứng yêu cầu của CPTPP thông qua quá trình cải cách pháp luật lao động và thể chế hiện đang diễn ra. Trên thực tế, Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể về khuôn khổ pháp luật lao động trong quá trình tiến tới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa kể từ thời kỳ Ðổi mới. Trong những năm gần đây, diện bao phủ của công tác bảo vệ về pháp luật đã được mở rộng dần đến người lao động trong nền kinh tế phi chính thức. Ðồng thời, việc điều chỉnh mức lương tối thiểu đã trở thành một quá trình ba bên với sự tham gia của đại diện của Chính phủ, người lao động và người sử dụng lao động, thông qua Hội đồng Tiền lương Quốc gia.

Tuy nhiên, vẫn còn đó một số điểm yếu trong pháp luật lao động và các thể chế liên quan đến quan hệ lao động. Ðã có hơn 6.000 cuộc đình công kể từ giữa những năm 1990 và tất cả đều là đình công tự phát, không do công đoàn khởi xướng. Ðây là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy người lao động không cảm thấy quyền lợi và mối quan tâm của họ được giải quyết và quy trình xử lý vấn đề không hiệu quả.

Tôi tin rằng việc sửa đổi Luật Lao động và đổi mới hệ thống quan hệ lao động phù hợp với Tuyên bố năm 1998 của ILO và bối cảnh của Việt Nam chắc chắn sẽ giúp ích cho vấn đề này.

- Những lĩnh vực cụ thể nào cần được tập trung để đáp ứng yêu cầu của các quy định về lao động trong Hiệp định CPTPP?

- Các chương về quan hệ lao động có vai trò mấu chốt đối với không chỉ Hiệp định CPTPP và FTA giữa EU - Việt Nam, mà còn là mục tiêu tổng quát hiện đại hóa cách thức lao động được quy định tại Việt Nam trong thời kỳ hiện đại.

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, điều kiện cho người lao động, bao gồm tiền lương, được quyết định thông qua đối thoại xã hội và thương lượng tập thể giữa đại diện người lao động và người sử dụng lao động, được trao quyền và điều chỉnh bởi các luật và quy định liên quan đến quan hệ lao động. Ðây là điểm yếu trong Luật Lao động hiện hành, cần phải cải thiện để phù hợp với Tuyên bố năm 1998 của ILO.

Còn nhiều vấn đề quan trọng sẽ ảnh hưởng tới doanh nghiệp, người lao động và xã hội, bao gồm hợp đồng lao động, phân biệt đối xử, tuổi nghỉ hưu, tiền lương và thời giờ làm việc.

Một vấn đề khác cũng không kém phần quan trọng là câu hỏi căn bản về phạm vi áp dụng của Luật Lao động. Liệu luật này chỉ áp dụng cho người lao động và người sử dụng lao động ở khu vực kinh tế chính thức, hay chỉ với những người lao động có hợp đồng lao động? Thí dụ với những tài xế Grab và Uber thì sao? Việt Nam hiện có một lực lượng lao động hơn 53 triệu người, trong đó 29 triệu người làm các công việc tự làm hoặc là lao động gia đình không được trả lương, phần lớn thuộc nền kinh tế phi chính thức, và 23 triệu người là lao động làm công ăn lương. Vậy bao nhiêu trong số họ sẽ nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật Lao động? Ðây có lẽ là câu hỏi đầu tiên cần được trả lời.

Trong bối cảnh đó, tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia đầy đủ của công đoàn, đại diện doanh nghiệp và các bên liên quan khác trong suốt quá trình sửa đổi Luật Lao động. Việc đổi mới pháp luật về lao động có thành công hay không phụ thuộc vào cách thức tiếp thu một cách cân bằng giữa nhu cầu được bảo vệ tốt hơn của người lao động và nhu cầu về tính linh hoạt của doanh nghiệp. Cân bằng những nhu cầu của người lao động và người sử dụng lao động là khả thi chỉ khi đại diện của họ tham gia vào quá trình này.

- Xin cảm ơn ông.