Chắt từ máu và hoa

Nhà văn Phạm Việt Long trực tiếp ra chiến trường nhận nhiệm vụ vào những năm ác liệt nhất, những năm bắt đầu tổng tiến công Mậu Thân 1968. Nơi ông đến: Chiến trường Nam Trung Bộ cũng là một trong những mặt trận gian khó nhất.

Chắt từ máu và hoa

Hàng chục năm sau, khi cuộc chiến tưởng chừng như xa lắc, các tập truyện kỷ niệm của nhà văn Phạm Việt Long vẫn như đau đáu không quên những năm tháng gian khó, hào hùng và thấm đẫm tinh thần hy sinh cao cả cho Tổ quốc.

Trong tập truyện mới “Góc khuất Trường Sơn” (NXB Hội Nhà văn), chúng ta thấy một thế giới ở trên tuyến đường Trường Sơn những năm bom đạn và chết chóc rình rập ở mọi giây, mọi phút. Đó là những người lính trẻ, trên đường hành quân ra trận, những cô thanh niên xung phong, lính tải thương, các giao liên, người giữ kho… Tất cả họ đều xinh đẹp, trẻ trung, trong sáng và dũng cảm tuyệt trần, sẵn sàng cống hiến đến giọt máu cuối cùng vì Tổ quốc.

“Hoa dã quỳ vẫn nở” là câu chuyện đầu tiên, sâu sắc và cảm động. Tình yêu cận kề với chết chóc, hình ảnh máu và hoa... Tất cả tạo nên một sắc thái chiến trường đầy bi tráng. Đó là câu chuyện người giao liên đã cứu cô gái tải đạn tên Nhung, cô gái yêu hoa dã quỳ. Rồi anh bị thương, và đêm đó cô gái đã lấy thân thể mình truyền năng lượng trinh nữ cho người lính trẻ, để sáng hôm sau anh lính đã có thể tập tễnh đứng dậy, và giữa màu vàng rực của núi rừng, của hoa dã quỳ, “mọi lời thề hẹn như đã hoà tan trong núi rừng”.

Lần lượt, những công việc âm thầm, những người lính vô danh nhưng đóng góp không hề nhỏ trong cuộc chiến toàn dân tộc cũng đều được tác giả đưa vào các ký sự. Có một công việc không kém phần thầm lặng ở Trường Sơn mà hầu như ít được biết tới, đó là công việc trông kho. Chiến sĩ Giang trong “Lệnh cuối” một mình ở trông kho giữa rừng già. “Không có đường xe vào, không có điện, không có người qua lại. Chỉ có mùi mốc của vải bạt, mùi kim loại giả và tiếng xào xạc của lá rơi”. Để khỏi quên tiếng, anh phải thường xuyên nói chuyện với thượng sĩ Quy - là con rắn lục sống trong hòm đạn. Rồi các buổi chiều anh trò chuyện với cái bóng của mình trên lá Tái Giang. Không biết thời gian đã trôi qua bao năm tháng. Không có lệnh rút. Thậm chí khi mọi người hát bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” anh cũng không biết. Nhiều năm sau có một nhóm thợ tìm trầm tìm đến và phát hiện ra anh. Một cán bộ già phải nói: “Đất nước hòa bình rồi, anh về đi!”, anh nói: “Chưa có lệnh, nên tôi chưa đi ra”. Có thể nói lòng tin, sự trung thành tuyệt đối của người lính được khắc họa vừa giản dị lại vừa thanh cao. Đâu đó chính là sự hy sinh, cống hiến trọn vẹn một cuộc đời.

Rồi còn những góc khuất khác, theo nghĩa bóng của nó. Trong “Mầm sống”, khi địch đuổi đến cô Năm, du kích địa phương và anh Thành, nhà báo mặt trận đã phải chui xuống một hầm bí mật để ẩn náu. Trong hầm chỉ có một ngọn đèn dầu. Bên trên là bom đạn gầm rú, chết chóc. Họ dựa vào nhau, gần gũi, chỉ biết là còn sống… Điều gì xảy ra thì đã xảy ra. Nó giống như một chút ánh sáng, một chút tình người giữa mênh mông, chết chóc. Để một mầm sống bé nhỏ được gieo mầm hiện hữu. Rồi Thành cùng sư đoàn tiếp tục tiến sâu vào nam. Cô gái vượt cạn một mình. Ngày chiến thắng Thành không trở về, anh đã hy sinh ở trận đánh cuối cùng. Một em bé mang tên “Thái Bình” nơi quê cha nhưng chưa từng biết mặt cha lớn lên giữa tình yêu thương của làng xóm chính là một cái kết đầy tính nhân văn và sự mãnh liệt của những mầm sống.

Thanh xuân của họ đã gửi lại trong cuộc chiến, tình yêu của họ tuy chỉ là những khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng nó rực sáng như pháo hoa, vẹn nguyên mà không có bất cứ một điều gì có thể làm phai mờ được.