Như một người con Tây Nguyên
Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng như nhiều thanh niên khác, Ngọc Anh tập kết ra miền Bắc. Do có tình cảm và hiểu biết rất sâu về Tây Nguyên và đồng bào các dân tộc nơi đây, Ngọc Anh được điều về công tác tại Ban Dân tộc Trung ương. Lúc này, ông mới hai mươi bảy tuổi. Nhà văn Nguyên Ngọc nhớ lại: "Hai chúng tôi cùng là học sinh, cùng nhập ngũ một ngày, cùng làm lính, rồi cùng làm phóng viên mặt trận, vì hăng hái, vì lãng mạn, vì thích phiêu lưu mạo hiểm... Ngày ấy có nhạc sĩ Nhật Lai nữa. Chúng tôi lang thang trên khắp Tây Nguyên suốt thời kỳ đánh Pháp, nam Tây Nguyên, trung Tây Nguyên, rồi bắc Tây Nguyên. Chúng tôi làm đủ thứ việc, có tên và không tên, từ đánh giặc, làm rẫy, đến đi vận động quần chúng, tổ chức du kích, vũ trang tuyên truyền... Cả la cà rong chơi trong các buôn làng Ê Ðê, Gia Rai, Mơ Nông, Xê Ðăng, Triêng, Dẻ, Cor...".
Ở Hà Nội, có điều kiện học tập, tìm hiểu sâu về đời sống đồng bào các dân tộc Việt Nam, Ngọc Anh càng thương nhớ về Tây Nguyên. Và rồi, trong đời sống văn học những năm sau đó bắt đầu xuất hiện một số bài thơ ghi ở dưới là do Ngọc Anh dịch từ thơ các dân tộc như Ba Na, Ê Ðê... mà mãi rất lâu sau này người ta mới biết đó chính là những tác phẩm của ông.
Một vài người bạn văn đã nhận xét rằng, Ngọc Anh như là một người con của Tây Nguyên. Chính những năm sống tại Hà Nội, một chuyến công tác, Ngọc Anh đã gặp gỡ Xoa, một thiếu nữ đang làm việc tại Hải Phòng. Như là số phận sắp đặt, hai người đã thấy muốn gắn bó với nhau ngay. Ðối với hai người, đây là mối tình đầu. Rồi họ cưới nhau, mãn nguyện với hạnh phúc lứa đôi, dù thời gian được sống bên nhau không nhiều, nếu tính tất cả thời gian được chung sống, chỉ chừng 40 ngày. Nhưng, họ đã có được hai con, là Bắc và Hải!
Năm 1964, cũng như bao người con ưu tú khác, Ngọc Anh tình nguyện vào miền Nam. Ông lại trở về vùng bắc Kon Tum của Tây Nguyên thân yêu, để chiến đấu và làm công tác văn hóa-văn nghệ.
Thời kháng chiến chống Mỹ, nhiều người ở Tây Nguyên đã biết kơnia là loài cây có sức sống mạnh mẽ kỳ lạ. Không lực Mỹ rải chất độc hóa học nhằm giết chết rừng, hầu hết các cây khác đều không sống nổi, chỉ có kơnia vẫn sống. Loài cây đặc thù của Tây Nguyên hùng tráng này cũng đã được một số nhà văn, nhà báo biết tới, nhưng chỉ có nhà thơ Ngọc Anh mới là người phả được hồn mình vào cây kơnia, qua tác phẩm Bóng cây kơnia! Bài thơ như duyên phận của nhà thơ với cao nguyên miền Tây, chỉ với 20 dòng, nhưng đã trở thành biểu tượng lớn về tình yêu, lòng dũng cảm và niềm tin sâu sắc của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến thần thánh. Sau khi Ngọc Anh qua đời, đồng đội của ông thấy bài thơ Bóng cây kơnia chép trong quyển nhật ký ông để lại. Ðó là một sáng tạo thơ độc đáo, hình tượng thơ và xúc cảm thơ thật lớn, thật sâu:
Buổi sáng em làm rẫy
Thấy bóng cây kơnia
Bóng ngả che ngực em
Về nhớ anh không ngủ.
Buổi chiều mẹ lên rẫy
Thấy bóng cây kơnia
Bóng tròn che lưng mẹ
Về nhớ anh mẹ khóc.
Ðây là quãng ngày Ngọc Anh mới từ Hà Nội vào bắc Kon Tum, hình ảnh người vợ bé nhỏ ở cuối trời đang chăm bẵm, chở che hai đứa con nhỏ luôn hiện lên trong tâm trí ông, nhất là vào những đêm khuya, khiến ông thức dậy, mở cuốn nhật ký ra, và viết. Sống, chiến đấu ở Tây Nguyên, viết Bóng cây kơnia để thể hiện tấm lòng người dân Tây Nguyên trung dũng; nhưng dường như nhà thơ đã gửi gắm cả tâm hồn ông, cả mối tình riêng của đời ông vào tác phẩm. Do vậy, bài thơ chứa đựng một mối tình lớn hơn mọi thân phận cá nhân, mối tình đất nước:
Em hỏi cây kơnia:
- Gió mày thổi về đâu?
- Về phương mặt trời mọc.
Mẹ hỏi cây kơnia:
- Rễ mày uống nước đâu?
- Uống nước nguồn miền Bắc...
Trong những năm tháng khốc liệt này, nhà văn Nguyên Ngọc đang trụ ở chiến trường Quảng Nam, là một người lãnh đạo văn nghệ của Quân khu V. Năm 1965, được tin Ngọc Anh đang ở mặt trận bắc Kon Tum, Nguyên Ngọc đã gửi điện văn xin Tỉnh ủy Kon Tum cho Ngọc Anh về làm báo Văn nghệ giải phóng Quân khu. Nhưng, chỉ dăm tháng sau, Nguyên Ngọc nhận được điện báo tin đau đớn, Ngọc Anh đã anh dũng hy sinh bên kia chân núi Ngọc Linh. Lúc này nhà thơ mới ba mươi tư tuổi, đang rất nhiều hoài bão và dồi dào sức sáng tạo thơ ca. Một thời gian ngắn sau, qua đồng đội, đồng nghiệp của Ngọc Anh, bài thơ Bóng cây kơnia đã xuất bản rộng rãi trên sách, báo và được công chúng văn học vô cùng trân trọng. Rồi nhạc sĩ Phan Huỳnh Ðiểu đã phổ nhạc, và ngay sau đó, nữ ca sĩ Măng Thị Hội đã thành danh với ca khúc này. Càng trải thêm thời gian, người đời càng thấy bài thơ Bóng cây kơnia thật sự là một tác phẩm bất hủ của nền văn chương Việt Nam hiện đại.
Hồn thi sĩ khôn nguôi mong nhớ
Sau khi đất nước thống nhất, đồng đội của Ngọc Anh và gia đình đã đi tìm mộ ông, nhưng mãi chưa thấy. Bởi, những người biết sự hy sinh anh dũng của ông chỉ còn nhớ áng chừng đã chôn cất ông ở chỗ này, quãng ấy. Ðến năm 1988, bà Xoa đã có tuổi, nhưng bỗng cảm thấy đi lần này sẽ tìm được hài cốt của chồng. Ðến Plây Cu, qua những đồi cà-phê hoa nở trắng xóa, trời bỗng nổi gió. Bà Xoa sức không khỏe, thấy lạnh buốt, răng cắn chặt môi. Mọi người hiểu bà không còn đủ sức vượt rừng lội suối mấy ngày nữa để tới được núi Ngọc Linh ở huyện Ðắc Lây, nơi có lẽ còn những người dân tộc Cor vẫn nhớ chỗ chôn cất người chiến sĩ giải phóng quân 23 năm về trước. Những đồng đội của ông Ngọc Anh thấy cần tiếp tục dấn bước. Họ dặn bà Xoa rằng, vào giờ đó, ngày đó, tại Plây Cu bà cũng hướng tới núi Ngọc Linh và thắp lên ba nén nhang...
Vài ngày sau, đoàn đi tìm mộ tới bên chân núi Ngọc Linh. Họ đặt giữa rừng một bàn thờ đơn sơ, thắp lên ba nén nhang và cầu khấn hồn thiêng người đã khuất cho họ biết chỗ đang nằm, để lo đưa về an nghỉ ở quê nhà. Khói nhang bay dùng dằng, hương thơm quanh quất dưới những tán cây lớn. Thật lạ, vài phút sau thì một nén nhang bị tắt ngấm. Cùng lúc đó, đúng như định hẹn, tại Plây Cu, bà Xoa cũng đã thắp ba nén nhang, đang hướng về núi Ngọc Linh, miệng khấn gọi chồng, nước mắt chảy giàn giụa xuống hai bên má. Và rất lạ, một nén nhang cũng lặng tắt. Hai nơi cách xa nhau mấy ngày đường, họ cùng thắp lại nén nhang. Nhưng vài phút sau, một nén nhang lại bị tắt...
Bên chân núi Ngọc Linh, một cán bộ thương binh xã hội của tỉnh cầm con rựa định đi vào rừng chặt một đốt nứa để thay cái chén rót rượu cúng. Mới đi được mươi bước, anh bị vấp vào một tảng đá khuất dưới lớp lá mục. Sao lại vấp ngã chỗ này, người đã khuất mách bảo gì chăng? Ngay sau đó, mọi người lật tảng đá lên, rồi bắt đầu đào... Chỉ mươi phút sau, họ thấy phán đoán và linh cảm của mình là chính xác. Nằm bên dưới là hài cốt nhà thơ - liệt sĩ Ngọc Anh!
Câu chuyện tìm thấy hài cốt nhà thơ liệt sĩ khiến chính những người tìm mộ cũng thấy thật lạ lùng. Về sau, chuyện còn được viết đăng lên báo. Nhiều người quan tâm, nhất là các nhà thơ, nhạc sĩ đã rất mừng khi biết một nhà thơ liệt sĩ không còn bị nằm cô đơn lạnh lẽo giữa rừng nữa. Có người bạn của Ngọc Anh đã vào Hà Ðông thăm hỏi bà Xoa, lúc vui chuyện đã nói: "Bà đi gọi tìm được ông ấy là công to lắm. Nhưng có lẽ, hồn nhà thơ vẫn mong nhớ người ông ấy yêu, mới gọi được đấy!".
Không thể nói hết nỗi sung sướng của bà Xoa và hai người con sau khi tìm thấy hài cốt của chồng, của cha. Họ đã khóc ròng, nước mắt càng chảy bao nhiêu, lòng họ dần trở nên yên ổn bấy nhiêu. Nhìn dáng vóc bà Xoa trong suốt thời gian đi tìm mộ chồng, và do cũng hiểu suốt cuộc đời bà chỉ được sống bên chồng chừng bốn mươi ngày, một thân một mình chăm bẵm hai con khôn lớn, nên có người trong đoàn đi tìm hài cốt liệt sĩ Ngọc Anh chợt thốt lên: "Bà Xoa cũng cứng cỏi, bền lòng như một cây kơnia vậy!".
* Trong những năm đánh giặc gian khổ, đau thương, bà Xoa là một cây kơnia lặng lẽ cuối trời mà nhà thơ Ngọc Anh ở một chân trời khác đầy máu lửa đã luôn thương nhớ về. Bởi thế mà cuộc đời này mới có thêm một tác phẩm thi ca bất hủ!