Mà thực ra Trà có giận được ai bao giờ, bực đến chết cũng chỉ một lúc, rồi lại cười nói bô bô được ngay. Chỉ phải cái cả nghĩ hay lo, định làm gì thì lao lung nghĩ ngợi đến quên ăn, quên ngủ.
Hòa từ nãy vẫn có ý hỏi, nhưng chưa gặp lúc, giờ thấy chồng xởi lởi, liền kéo ghế lại gần, nhìn thẳng vào khuôn mặt chữ điền với hai hàng mi dầy, đôi mắt to, sáng lóng lánh của chồng dịu dàng hỏi: ừ thôi, cứ cho là cả nhà nhất trí rồi đi, giờ ba mặt một lời, có u nữa đây, anh muốn làm thế nào, nói lại cho cả u nghe đi, làm hết bao nhiêu, vay mượn ở đâu? Còn như hồi đêm bảo vay vợ chồng bác cả là em mặc anh đấy. Nhưng thôi, em cũng nghe anh, vì con cái. Cái Hưởng học đại học ngoại ngữ mãi trên Hà Nội cũng tốn kém lắm, chỉ tiền thuê nhà trọ đã tháng ngót triệu bạc. Lại còn thằng Thăng lên lớp mười, đi học mãi trên huyện. Nghèo thì nghèo rồi cũng phải mua cho cái xe đạp, chứ chả lẽ con người ta xe đạp cả, con mình lẽo đẽo đi bộ mãi. Thôi thì vì con cái, một liều ba bảy cũng liều lần này nữa. Cầu mong các cụ hai bên nội ngoại phù hộ cho được như cái đận dồn điền đổi thửa mở rộng ao năm nọ...
Gớm, em nói gì nghe thiểu não thế. Trà mở hộp thuốc lào vê vê mấy sợi đặt vào nõ điếu, chợt ngẩng lên bảo vợ. Xưa nay các cụ vẫn dạy nuôi cá gá bạc, huống hồ mình lại dưới ao nuôi cá, trên bờ dựng chòi, làm lều cho người ta thuê ngồi chơi câu cá, lo gì không thu hồi được vốn. Khéo làm, chỉ vài năm có lãi. Nhưng cái việc dựng chòi, làm lều lại không lo bằng làm đường đi trên bờ ao. Tiếng là đường không rộng, chỉ chừng bốn mươi phân giữa bờ ao thôi, nhưng vùng nhà mình rộng hàng mẫu, nên chỉ cát đá, xi-măng, mới tính xơ đã vài chục triệu đồng. Chưa kể sắt thép, xi-măng đổ cột bê- tông dựng chòi xuống ao và tre, gỗ, lá làm lều trên bờ, cũng tốn mươi triệu nữa.
Thế mà anh lại định vay tiền vợ chồng bác cả. Hòa nghe chồng nhẩm tính đến đấy vội nói chen. Dẫu có, bác ấy cũng chẳng cho anh vay món tiền lớn thế. Lớn với mình, chứ ông bà ấy mấy chục triệu là cái gì. Dạo con Thu đỗ đại học, còn mua thưởng cho chiếc xe những ba mươi mấy triệu cơ mà. Mua xe cho con ba mươi mấy triệu đâu không biết, chỉ biết mới tháng trước u ốm nằm bệnh viện, vợ chồng bác ấy về cho u được đúng năm mươi nghìn đồng. Với u còn thế nữa là vợ chồng mình, anh em kiến giả nhất phận, anh đừng có lên đấy vay, kẻo không vay thì còn, vay lại mất cả tình anh em. Trà ra ý bênh anh, vội nói trái, u là mẹ liệt sĩ, ốm đau nằm bệnh viện đã có nhà nước, chứ tốn kém gì nữa đâu mà cần tiền. Nhưng mẹ chồng nghe nàng dâu nói thế, hỏi con trai, nếu nhất quyết làm thì liệu có thể vay mượn chỗ khác được không? Nàng dâu nói ngay, hồi đêm con cũng bàn làm đơn vay ngân hàng, nhưng nhà con còn ngại, vì vay ngân hàng là phải thế chấp... Mà thế chấp thì... Kìa, mình...! Nghe vợ nói đến đấy, Trà vội can không cho Hòa nói trắng ra rằng, vay ngân hàng là phải thế chấp nhà đất. Bởi lâu nay Trà vẫn ngại động đến chuyện nhà cửa, đất cát thổ cư ông cha để lại. Tiếng là vợ chồng Trà đang ở với mẹ và giỗ chạp, tết nhất thờ cúng tiên tổ như cháu trưởng đích tôn, nhưng Trà không phải là trưởng, cũng chưa bao giờ được ông anh cả giao cho thay mặt ông ấy ở nhà làm trưởng. Thế nên sổ hộ khẩu, đất cát thổ cư trước ghi tên ông, bà; sau ngày ông mất, bà vẫn là chủ hộ, chứ chưa sang tên cho anh nào. Tiếng giờ chỉ còn hai anh em, nhưng ông bà còn người con trai nữa ở trên Trà, đi bộ đội hy sinh trên biên giới, dẫu vợ đã xuất giá nhưng vẫn nuôi đứa con trai, cháu gọi Trà bằng chú ruột. Thế nên để không sao, thử động vào xem, không khéo mất cả tình anh em vì tý thổ cư. Nên nói đến vay tiền ngân hàng phải thế chấp nhà đất là không những Hòa, mà cả Trà cũng thấy bứt rứt, không nỡ.
Bà cụ bảo con trai và nàng dâu, ừ, vợ chồng nghĩ thế cũng phải, nhưng theo u thì thằng Trà cứ lên thành phố hỏi anh cả xem. Nói đến đấy bà cụ như bỗng nhớ ra, hay là bây giờ còn sớm, vợ chồng nó chưa đi làm đâu, thằng Trà bấm điện thoại để u nói chuyện với anh chị ấy cho. Thế còn gì bằng, bác cả vẫn bảo u là cây cột cái trong nhà, có u nói cho một câu, bằng vợ chồng con nói bã bọt mép. Trà xăng xái đứng lên cầm điện thoại gọi. Dạ, em, Trà mà! Anh nói chuyện với u nhá. Không đợi con trai gọi, bà cụ đến bên đón chiếc máy nghe từ tay Trà. Trong lúc bà cụ nói, vợ chồng Trà như cùng ghé vào bên tai bà cụ đang nghe máy. Chốc chốc cả hai lại chỉ chỏ nhau cười, làm bà cụ có lúc như cố nói to trong máy, con nói lại đi, thế hả, anh em lọt sàng xuống nia, vợ chồng con giờ là người thành phố, thiết gì tý đất ở quê. Bà cụ nghe đến đấy bỗng dệt mặt ra, giây lát như bỗng nhớ là có vợ chồng Trà đứng cạnh, lại nói tiếp, giọng nhỏ hẳn lại, thôi tuỳ con. Nhưng anh cũng nói với chị ấy cho em một câu. Thương em, nhưng cũng phải thuận vợ thuận chồng, con ạ. Thế ra mẹ cái Thu cũng đứng đấy à. Ừ, u chào con. Không chờ bà cụ úp máy, mới nghe đến đấy là vợ chồng Trà quay ra, rồi không nén được niềm vui, vội ôm chầm lấy nhau ngay trước mặt mẹ. Bà cụ nhìn con trai đang bế bổng nàng dâu lên như trẻ con, lòng bỗng man mác niềm vui nỗi buồn, nhưng không muốn để nàng dâu biết, vội mắng con, cha bố anh, phát cuồng rồi đấy. Không phát cuồng sao được, vợ chồng anh cả chẳng những đồng ý cho vợ chồng chú em thế chấp nhà đất, mà còn nói thẳng thừng, giờ là người thành phố, thiết gì tý đất ở quê, vậy thì thả sức cầm sổ đỏ, vay năm chục chứ trăm triệu ngân hàng duyệt ơ.
Thế nên, ngân hàng huyện mới chỉ nhận hồ sơ vay hôm trước, hôm sau Trà đã về hét vợ con nhổ hết khoai lang trên bờ, khoai nước dưới ao, rồi chuối chăn phá hết. Thay vào những khóm chuối tốt như rừng quanh ao, Trà mượn người, thuê ô-tô sang trung tâm giống cây trồng tỉnh mua về trồng toàn một loại hồng không hạt. Mới đấy mà giờ cây nào cây ấy đã trĩu trịt quả. Những cây hồng với những phiến lá to ôm lấy quả đỏ tươi. Quanh vùng ao nhà Trà chỉ có rặt một loại hồng, cây chen cây đứng thành rừng hồng xanh mướt bốn mặt bờ ao, vào mùa quả chín cây nào cây ấy cứ đỏ ối cả lên. Không chỉ người ở xa, ngay người làng mỗi khi có việc đi qua cũng không thể không bị vùng ao nhà Trà hút tầm mắt. Còn người ở xa, chưa đến thì thôi, đến một lần lại muốn đến nữa. Bởi người ở xa đến thì không thể không dừng lại lâu, thả bộ quanh ao, nhìn rừng hồng trên bờ, ngắm con cá dưới nước.
Ngay bờ ao cứ một đoạn, một đoạn Trà lại làm một cái lều, giống hệt cái lều tổ coi dưa năm đã lâu, cũng hai mái một nóc lợp rạ, trong kê chiếc chõng tre để người ngồi câu cá mà vẫn có thể ăn uống, chơi cờ tướng, tú lơ khơ, hoặc nằm nghỉ thoải mái. Lều trên bờ giống hệt lều người coi dưa, thì những chiếc chòi dưới ao lại làm giống kiểu nhà nổi trên mặt nước. Còn dưới ao thì khỏi nói, ngay từ ngày chưa cải tạo ao thành điểm du lịch đồng quê, dưới làn nước nhàn nhạt kia đã luôn xôn xao gợn sóng, bởi từng đàn cá trắm, chép, mè, trôi, rô phi lũ lượt kéo đi ăn mồi.
Bây giờ vùng ao càng trở nên sinh động, nhất là vào thứ bảy, chủ nhật những người điều dưỡng và du khách bên khu nước khoáng nóng và du lịch sinh thái Phú Xuân từng tốp, từng tốp đưa nhau sang nhìn vùng ao, ngắm rặng hồng, có tốp thuê lều và cần câu ngồi câu cả buổi, được cá ngon là mua, bảo nhà chủ rán nấu, rồi ngả rượu bia ra uống ngay trên mặt nước bì bũm tiếng cá quẫy. Thế nên, ngày vắng khách không nói, chứ ngày đông thì hai vợ chồng, hai đứa con, lắm hôm cả bà cụ nữa, cứ tất bật ngoài vùng ao từ sáng đến chiều. Ðược cái dịp đông khách cũng là mùa hè, cái Hưởng, thằng Thăng được nghỉ học. Gì chứ việc đưa mồi câu, hướng dẫn khách đi xem ao thì thằng Thăng làm nhanh nhẹn. Chỉ khi khách là người nước ngoài đi hai, ba người, lại không có phiên dịch, thì thôi đấy, cả thằng Thăng, rồi bố Trà, mẹ Hòa đều ngớ ra, chẳng còn hiểu họ bi bô thế là nghĩa làm sao nữa.
Có lần, hôm ấy may cái Hưởng ở nhà, ba người khách Tây, hai nam, một nữ đi xe ôm đến. Tới nơi khách đi xem phong cảnh ao chuôm, cây quả ngay. Nhưng chưa hết lượt ao đã dừng chân, nói với nhau câu gì đấy, rồi cả ba đều quay lại. Trà đang đi sau đoàn khách bên Thái Bình sang, thấy thế vội quay lại, ra hiệu hỏi, quý vị cần gì? Ba người kia dừng lại, một người cao to, trông có lẽ nhiều tuổi hơn, dễ đến năm mươi ngoài, đưa chiếc túi khoác vai cho người đàn bà, dễ kém ông ta vài tuổi, rồi đưa hai tay lên ngang vai ra hiệu vuốt vuốt xuống bụng, lại xuống đầu gối. Trà hết nhìn ông ta lại nhìn người đàn bà, chợt hiểu là hai vợ chồng, còn người thanh niên đeo cái túi tổ bố như ba lô sau lưng, chắc là con trai họ. Chợt nghĩ họ là một gia đình, vội gọi sang phía bờ bên kia bảo con gái, đoàn khách ấy có phiên dịch rồi, con sang đây xem vợ chồng ông Tây này cần gì hộ bố với. Khi Hưởng sang đến nơi, hỏi, thì đúng là một gia đình, hai vợ chồng và cậu con trai, lần đầu đi du lịch sang Việt Nam. Còn khi nãy ông Tây ra hiệu muốn hỏi bố là nhà mình có bộ quần áo nào may kiểu rồng rộng, chùng chùng đến dưới chân không? Con thử hỏi lại ông ấy xem, quần áo gì lại vừa rộng, vừa chùng đến dưới chân. Cô con gái chuyển ngữ lời bố nói. Ông Tây vừa định ra hiệu lần nữa thì bà vợ chỉ tay vào trong sân, chắc là bảo vào trong kia cho dễ chuyện trò.
Khi hai vợ chồng và cậu con ông bà Tây yên vị chỗ bàn ghế xa-lông kê giữa nhà, ông Tây mới bảo con trai lấy trong ba lô ra quyển sổ tay. Ông cầm quyển sổ, cẩn thận rút từ trong bìa ni-lông ra tấm ảnh, rồi giơ ra trước mặt bố con Trà. Thoáng nhìn Trà nhận ra trong ảnh là người đàn ông đang đứng bên cây cau, cạnh đó là cái chum, phía trên cái chum là tàu cau buộc ngang thân cây, có một đầu chõ vào miệng chum.
Một cây cau có cái chum đặt dưới gốc hứng nước mưa, vài chục năm trước hay thấy ở làng quê. Ngay nhà Trà hồi ông cụ còn sống cũng có mấy cây cau trước cửa nhà, cạnh bờ ao hứng nước mưa vào chum vại. Nhưng Trà nhìn mãi không nhận ra người trong ảnh. Chỉ thấy một người đàn ông dáng tầm thước, khuôn mặt lưỡi cày, đầu đội mũ phớt dạ, vận quần áo nâu hơi cộc so với khổ người, chiếc áo có đủ hai túi ở hai bên vạt dưới, còn quần thì ở phía trước có hai cái đầu dải rút dài lõng thõng dưới vạt áo, kiểu ông già ngày xưa mặc quần lá tọa thường không giắt dải rút vào cạp quần. Nhìn kỹ người mặc quần áo ta trong ảnh, hình như lại không phải người ta. Cô con gái thấy bố nhìn mãi tấm ảnh, rồi buông giọng hồ nghi, vội quay sang hỏi vợ chồng ông Tây, ông bà có thể cho biết người trong ảnh là ai không ạ?
Nghe Hưởng hỏi, ông khách tỏ ra khoái trí, nheo mắt cười, được, được. Ðây là cha tôi. Một lần sang Việt Nam, ông được một đồng nghiệp người Việt dẫn đi chơi một làng ven đô. Khi vào nhà một người nông dân, thấy ông chủ vừa đi đâu về, còn vận nguyên bộ quần áo nâu, trông đẹp và nền nã quá, cha tôi liền nhờ người bạn nói với ông chủ nhà cho mượn bộ quần áo, để cha tôi mặc chụp kiểu ảnh làm kỷ niệm. Ông chủ nhà mến khách và dễ tính, vào ngay trong buồng thay bộ quần áo khác. Lúc đưa bộ quần áo cho cha tôi, ông còn ra hiệu bảo cha tôi cứ tự nhiên vào trong buồng thay quần áo. Khi cha tôi đi ra với bộ quần áo như ông thấy trong ảnh, thì ông bạn đồng nghiệp của cha tôi và ông chủ nhà đang đứng gần chỗ cây cau, cạnh cái chum. Cha tôi bảo hai người lùi ra, rồi ông đứng vào đấy, bên cây cau, cạnh cái chum, như ông thấy đây, để ông bạn đồng nghiệp của cha tôi chụp cho kiểu ảnh. Bây giờ cha tôi đã đi xa, nhưng tấm ảnh người chụp trong bộ quần áo nông dân Việt Nam này, từ khi còn sống, cha tôi đã phóng to treo trong phòng khách như một vật kỷ niệm vô giá. Tấm ảnh này, ông khách một lần nữa lại giơ tấm ảnh về phía bố con Trà, chỉ là một trong những tấm cha tôi cho in ra để tặng mỗi khi khách đến nhà ngỏ ý muốn có tấm ảnh như một món quà kỷ niệm của gia đình tôi. Thế nên, lần này sang Việt Nam, tôi cũng rất muốn được mặc bộ quần áo giống như cha tôi đã mặc và đứng bên cây có cái chum như cha tôi đứng mấy mươi năm trước, để chụp tấm ảnh làm kỷ niệm chuyến du lịch sang đất nước ông.
Trà nghe con gái dịch lại câu ông Tây nói mà cảm thấy khó xử. Trà quay lại bảo con gái nói lại với ông Tây, rằng cha tôi vô cùng cảm động khi được biết ý định tốt đẹp của ông, nhưng mong ông thông cảm, vì bây giờ những bộ quần áo nâu sồng như thế rất khó kiếm.
Bất chợt bà cụ từ dưới bếp xách siêu nước đi lên, nghe con trai nói với cháu gái thế, bà dừng chân ngay lối cửa bước vào, hỏi, quần áo nâu sồng làm gì mà bố nó lại bảo khó kiếm? Chả là ông Tây đây muốn mặc bộ quần áo nâu để chụp kiểu ảnh giống như kiểu của người trong ảnh này. Trà vừa nói vừa đứng dậy giơ tấm ảnh ra trước mặt bà cụ. Bà cụ à lên một tiếng, đưa siêu nước cho cô cháu gái đổ vào phích, rồi lững thững vào trong buồng. Giây lát quay ra, tay cầm cái gói ni-lông bọc vật gì bên trong. Trà vội đi lại đón cái gói, nhưng đã nghe bà cụ nói, đây là quần áo của thầy anh, lúc sống ông ấy chỉ có mỗi bộ này là lành, vẫn cất đi, chỉ những khi có công có việc đi đâu mới mặc. Khi thầy anh về già, u giặt giũ, phơi phóng, rồi cất dưới đáy hòm. Nhưng nếu ông khách mãi từ đâu đến lại muốn có bộ quần áo nâu sồng để chụp kiểu ảnh làm kỷ niệm nơi quê ta, thì u nghĩ cũng nên cho ông ấy mượn, để ông ấy được toại nguyện, anh ạ.
Trà đứng sững giây lát, rồi vội đón cái gói từ tay mẹ, mắt rớm lệ. Hình như anh vừa hiểu thêm một điều gì đó từ bộ nâu sồng...
----------
* Xem báo Nhân Dân cuối tuần phát hành ngày 26-6-2011.