Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.
Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Hình mẫu chưa lặp lại sau 15 năm

Cho tới bây giờ, thể thao Việt Nam mới có duy nhất một trường hợp vận động viên được ghi nhận đã vươn tới đỉnh cao nhờ dấu ấn quyết định của việc ứng dụng khoa học công nghệ. Đó là Hoàng Quý Phước, vận động viên bơi hội tụ hàng loạt yếu tố đặc biệt.

Mới 15 tuổi, chàng thiếu niên người Đà Nẵng đã cao tới 1m78, sải tay dài 1m93, cùng đôi chân to và dài hơn hẳn so lứa tuổi. Nếu được đào tạo theo cách thức và môi trường quen thuộc, Phước vẫn sẽ là tay bơi hàng đầu trong nước, song khó vươn ra quốc tế, giống như hàng loạt đàn anh trước đó. Thật may, tài năng trẻ hiếm có này được Viện Khoa học Thể dục thể thao phối hợp địa phương đưa vào diện đầu tư trọng điểm, và trước hết là nhân vật của chương trình thí điểm khoa học đặc thù. Anh được kiểm tra, xác định các chỉ số y sinh và chuyên môn sâu bằng công nghệ hiện đại theo chuẩn thế giới, từ đó dự báo khả năng phát triển và lên kế hoạch tập huấn chuyên biệt.

Nhờ những kết quả đầy hứa hẹn được máy móc chứng thực, ngành thể thao mới có cơ sở vững chắc để đưa Phước ra nước ngoài tập huấn dài hạn với nguồn kinh phí lớn. Cả quá trình sau đó đều được các chuyên gia giám sát, hỗ trợ, cập nhật chặt chẽ, không chỉ theo chu kỳ mà kỹ lưỡng đến từng buổi tập, bữa ăn, giấc ngủ hằng ngày. Bản thân kình ngư trẻ cũng có ý thức và thực hiện đầy đủ, hiệu quả những đòi hỏi gắt gao ấy. Nhờ thế, dù đến với bơi muộn, Phước liên tục đột phá, vượt ngưỡng với điểm rơi rực rỡ tại SEA Games 2011. Anh trở thành vận động viên bơi Việt Nam đầu tiên giành hai Huy chương vàng (nội dung 100m bướm và 100m tự do) ở một kỳ SEA Games, kèm chuẩn B Olympic.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Lâm Quang Thành, nguyên Phó Tổng cục trưởng Thể dục Thể thao, nguyên Trưởng đoàn Thể thao Việt Nam, kình ngư Hoàng Quý Phước xứng đáng là mẫu hình để học hỏi, nhân rộng. Và công thức kết đọng ở đây là khoa học công nghệ phải đi đầu trong phát hiện, tuyển chọn những vận động viên năng khiếu, rồi đặt vào một quy trình đào tạo bài bản, dài hạn, gắn với mục tiêu tầm cao ở ASIAD và Olympic.

Tuy nhiên, trường hợp của Phước là hình mẫu hiếm hoi xuyên suốt 15 năm qua.

Nền thể thao “tay trắng” về công nghệ

Trong suốt thời gian dài, việc phát hiện, đào tạo, tập huấn, thi đấu của các đội tuyển quốc gia, chưa nói đến các đơn vị địa phương cơ sở, vẫn chỉ dựa vào truyền thống, kinh nghiệm, năng lực, quyết tâm và nỗ lực của các nhà quản lý, huấn luyện và chính các vận động viên. Có thể dễ dàng nhận ra sự thiếu vắng hoàn toàn các yếu tố, giải pháp khoa học công nghệ, ở cả hai môn cơ bản là điền kinh và bơi lẫn một số môn mũi nhọn hàng đầu như bắn súng, cử tạ, cầu mây, karate...

Điển hình như đội tuyển quốc gia điền kinh, các tuyển thủ tập luyện quanh năm tại Trung tâm Đào tạo vận động viên cấp cao quốc gia cũng không nắm rõ về chỉ số y sinh, hay những thông số chuyên môn của chính mình. Đội cũng không có bác sĩ chuyên trách, máy móc, hay phương tiện hỗ trợ. Họ chỉ nỗ lực miệt mài tập luyện đúng và đủ theo giáo án huấn luyện viên đưa ra.

Hai đội tuyển bóng chuyền nam và nữ quốc gia cũng tập luyện và thi đấu trong thời gian dài, chỉ bằng cảm nhận chủ quan của ban huấn luyện và cầu thủ. Phải tới đầu năm nay, họ mới được cung cấp các thống kê về chỉ số chuyên môn của mình hay của đối thủ tại các giải đấu lớn, khi Liên đoàn Bóng chuyền Việt Nam ưu tiên riêng một nhân sự cho mảng này. Dẫu vậy, mọi thứ mới dừng ở khâu cung cấp dữ liệu thuần túy, chủ yếu để tham khảo và sử dụng một phần nhỏ.

Việc đoàn thể thao Việt Nam gồm 349 tuyển thủ dự tranh ASIAD 20, nhưng chỉ có sáu bác sĩ đi cùng, đã phơi bày một nghịch cảnh: Trung bình mỗi bác sĩ phải “gánh” tới 58 tuyển thủ, ở năm đội tuyển quốc gia.

Rõ ràng, việc ứng dụng khoa học công nghệ còn yếu và thiếu, ảnh hưởng trực tiếp tới mục tiêu nâng tầm của thể thao Việt Nam, trong bối cảnh thể thao thế giới tiến bộ nhanh chóng. Về căn bản, hơn 1.000 tuyển thủ của 40 đội tuyển quốc gia được triệu tập hằng năm đều chấp nhận “tay trắng” về khoa học công nghệ. Và, như đánh giá của chuyên gia Nguyễn Hồng Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Thể thao thành tích cao, nguyên Trưởng đoàn Thể thao Việt Nam, thành tích và tầm mức trình độ, vì thế, chỉ có thể dừng lại quanh đấu trường SEA Games.

Tồn tại một vòng luẩn quẩn, khi Thể thao Việt Nam có đầy đủ đơn vị chuyên trách, từ viện, trường, bệnh viện, trung tâm, song vẫn gặp vô vàn khó khăn, từ cơ sở vật chất, nhân sự, kinh phí. Ngay như đơn vị đầu ngành là Viện Khoa học Thể dục thể thao trước đây, nay là Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam (VICAST), cũng không sở hữu bất cứ hệ thống trang thiết bị nghiên cứu chuyên sâu nào. Hàng loạt dự án, đề tài đều đặn được hoàn thành, nhưng quá ít công trình có tính khả thi hay được ứng dụng, do thiếu tính thực tiễn hoặc thiếu kinh phí triển khai.

Cùng đó, chính ngành thể thao cũng thiếu một chiến lược và sự quan tâm đầu tư thích đáng cho việc ứng dụng khoa học công nghệ. Đơn cử, từ năm 2015, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lần đầu ban hành một thông tư về giám định khoa học, đánh giá trình độ tập luyện và kiểm tra sức khỏe, chỉ tiêu y sinh đối với vận động viên, trước hết là các tuyển thủ quốc gia. Dù vậy, chương trình tưởng như vô cùng quan trọng và thiết thực ấy lại sớm rơi vào cảnh không đi được vào đời sống thể thao, do thiếu giải pháp và nguồn lực tổ chức thực hiện.

Đột phá, hoặc tụt hậu

Có một thực tế rất đáng chú ý: Dù giành ngôi nhất toàn đoàn ở hai trong ba kỳ SEA Games gần nhất, Việt Nam chỉ đứng thứ sáu trong số các nước Đông Nam Á tại kỳ ASIAD gần nhất, và không thể giành huy chương nào ở hai kỳ Olympic liên tiếp.

Sự đột phá trước hết phải đến từ nhận thức, không chỉ với các nhà quản lý, nghiên cứu, huấn luyện, mà chính các vận động viên. Như khẳng định của ông Nguyễn Danh Hoàng Việt, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Olympic Quốc gia, Cục trưởng Cục Thể dục thể thao Việt Nam: Mấu chốt của vấn đề, sự thay đổi mang tính nền tảng, là đưa khoa học công nghệ trở thành trụ cột trong huấn luyện, đào tạo và thi đấu.

Trước thềm ASIAD, Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia đưa vào áp dụng hệ thống đánh giá chỉ số sẵn sàng thi đấu (PRI), gồm đo tình trạng thể chất, nguy cơ chấn thương và trạng thái của từng vận động viên theo thời gian thực, để đội ngũ huấn luyện quyết định việc tăng, giảm tải hay yêu cầu phục hồi. Chương trình được triển khai cho nhiều môn trọng điểm như cử tạ, bơi lội, điền kinh, xe đạp, đấu kiếm, taekwondo và quyền anh, theo chu kỳ sáu đến 12 tuần, hướng tới mục tiêu bảo đảm vận động viên đạt trạng thái thể chất tốt nhất. Bên cạnh đó, bốn đội tuyển mũi nhọn được lựa chọn thí điểm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác huấn luyện chuyên môn, gồm bắn súng, bắn cung, boxing và taekwondo. Tuy nhiên, tất cả mới chỉ là những bước khởi đầu, mang tính đơn lẻ và thiếu đồng bộ.

Gắn với Chiến lược phát triển thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Chương trình phát triển các môn thể thao trọng điểm chuẩn bị cho Olympic, Asian Games giai đoạn 2026-2046 xác định việc ứng dụng AI, dữ liệu lớn, để tuyển chọn và huấn luyện vận động viên. Ngoài ra, chương trình cũng thành lập phòng huấn luyện công nghệ cao tại các trung tâm huấn luyện quốc gia, đồng thời xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thể thao, cho 17 môn trọng điểm. Hai lĩnh vực không thể thiếu cũng được triển khai là giám định khoa học đối với vận động viên và phòng, chống doping.

Như bài học 15 năm chưa lặp lại của Hoàng Quý Phước, chuyện làm thế nào để các văn bản đã ban hành được hiện thực hóa vào từng buổi tập, từng bữa ăn, từng giấc ngủ của vận động viên, vẫn sẽ là câu hỏi còn bỏ ngỏ. Bên cạnh những đề án và chương trình dài hạn, thể thao nước nhà cần huy động thêm nhiều nguồn lực cụ thể, để cải thiện cơ sở vật chất, nhân sự, đồng thời thúc đẩy xã hội hóa và hợp tác quốc tế nhiều hơn nữa. Nếu không, khoảng trống mang tên khoa học công nghệ sẽ khó có thể san lấp, và mục tiêu vươn tầm sẽ mãi là đích nhắm xa vờ.

Theo Chương trình phát triển các môn thể thao trọng điểm chuẩn bị cho Olympic, Asian Games giai đoạn 2026-2046, Cục Thể dục Thể thao Việt Nam xác định ứng dụng khoa học công nghệ là một trong những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Trong đó, Cục sẽ đầu tư thêm các thiết bị (như hệ thống phân tích kỹ thuật số, cảm biến chuyển động, GPS tracking...); xây dựng hồ sơ năng lực cá nhân, các phần mềm phân tích cũng như dự báo thành tích; chú trọng khâu phục hồi, dinh dưỡng và y học thể thao (thông qua buồng áp suất, hiệu suất lạnh sâu, thủy trị liệu...); xây dựng hệ thống quản lý vận động viên, hồ sơ điện tử để quản lý toàn diện, phân tích nguy cơ và theo dõi tiến bộ; đào tạo đội ngũ chuyên gia hỗ trợ đa ngành (y sinh học, tâm lý thể thao, phân tích dữ liệu, dinh dưỡng thể thao) để bổ sung vào hệ thống huấn luyện.

Có thể bạn quan tâm