Giấc mơ lớn
Theo Quy hoạch điện VIII, trong giai đoạn 2021-2030, sẽ xây dựng mới 49.350 MVA và cải tạo 38.168 MVA trạm biến áp 500 kV; xây dựng mới 12.300 km và cải tạo 1.324 km đường dây 500 kV; xây dựng mới 78.525 MVA và cải tạo 34.997 MVA trạm biến áp 220 kV; xây dựng mới 16.285 km và cải tạo 6.484 km đường dây 220 kV.
Ước tính tổng vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải giai đoạn năm 2021-2030 tương đương 134,7 tỷ USD, trong đó nhu cầu cho truyền tải trung bình khoảng 1,5 tỷ USD/năm. Với giai đoạn năm 2031-2050, ước tính nhu cầu vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải là 399,3-523,1 tỷ USD, trong đó nhu cầu cho truyền tải khoảng 1,7-1,9 tỷ USD/năm.
Tuy nhiên, để thực hiện nhu cầu đầu tư tương đương khoảng 40.000 tỷ đồng/năm cho riêng truyền tải, việc huy động vốn cũng không phải là dễ dàng nếu nhìn vào thực tế hiện nay.
Năm 2022, đơn vị đầu tư chính và chủ lực của hệ thống truyền tải cả nước là Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (EVNNPT) - đơn vị 100% vốn Nhà nước đã hoàn thành khối lượng đầu tư với giá trị 16.868 tỷ đồng, đạt 83,1% kế hoạch, giải ngân khối lượng đầu tư xây dựng là 16.524 tỷ đồng, đạt 81,4% kế hoạch.
Như vậy, để thực hiện được kế hoạch phát triển mạng lưới truyền tải đặt ra trong Quy hoạch điện VIII, các nguồn vốn xã hội hóa rất được chờ trông. Trong Dự thảo Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII được Bộ Công thương đưa ra mới đây, đã có khoảng 100 dự án truyền tải các loại được đánh dấu là "xã hội hóa đầu tư", dù cơ chế triển khai chưa thấy rõ.
Theo quan sát, phần lớn các dự án "xã hội hóa" này được ghi chú "đồng bộ với dự án nguồn điện". Nghĩa là chủ đầu tư các dự án nguồn điện cụ thể chính là bên sẽ triển khai các dự án truyền tải để đấu nối nhà máy đó vào hệ thống điện quốc gia.
Đã từng có nhiều kỳ vọng đặt ra khi làn sóng đầu tư vào năng lượng tái tạo giai đoạn 2019-2020 bùng nổ, khiến một số tập đoàn tư nhân mong muốn và được phép đầu tư đường dây/trạm biến áp cấp 220/500 kV, từ đó câu chuyện xã hội hóa truyền tải điện trở nên nóng bỏng.
Phải nói rằng sự có mặt của các nhà đầu tư tư nhân trong các dự án truyền tải nhằm giúp các nhà máy điện từ năng lượng tái tạo của chính mình kịp hưởng giá bán điện ở mức cao đã khiến một số công trình truyền tải được thi công với thời gian thần tốc, nhất là khi so sánh với các dự án do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) triển khai vì phải tuân thủ đúng trình tự được đặt ra bởi các cơ quan nhà nước.
Điều này cũng tạo ra sự so sánh và tâm lý chờ đợi từ người ngoài cuộc vào việc tư nhân sẽ tham gia đầu tư truyền tải mạnh mẽ hơn để tạo dựng một hệ thống truyền tải đồ sộ như được đặt ra tại Quy hoạch điện VIII.
Trong quá khứ, sự tham gia của các thành phần kinh tế khác ngoài nhà nước, ngoài EVN/EVNNPT, vào truyền tải đã diễn ra lác đác như một số nhà máy/cụm nhà máy thủy điện ở miền bắc hay dự án điện của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đầu tư đã làm luôn các dự án truyền tải liên quan. Song, các chuyên gia nhìn nhận, bản chất của hành động này là để nhà đầu tư nhanh thu hồi vốn bỏ ra làm nhà máy điện, thay vì chờ triển khai đầu tư của bên ngành điện, mà vì một lý do nào đó lại chưa diễn ra đồng bộ với thời điểm nhà máy của nhà đầu tư ngoài EVN đi vào hoạt động, khiến nguy cơ nhà máy phát được ra điện mà không thu được tiền trở thành hiện thực.
Với các trường hợp này, chi phí đầu tư truyền tải điện sẽ được tính toán trong hợp đồng bán điện cho EVN thông qua giá mua điện của nhà máy cụ thể hoặc PVN sẽ chuyển giao lại EVN theo hình thức tăng/giảm vốn nhà nước.
Ở bên phân phối điện, mô hình các hợp tác xã phân phối điện hay một số doanh nghiệp tư nhân đầu tư lưới điện phân phối ở các khu đô thị, khu công nghiệp hay phạm vi xã cũng đã tồn tại lâu. Tuy nhiên, quy mô và cấp điện áp cũng khiêm tốn.
Nhìn vào thực tế triển khai Luật Điện lực sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/3/2022, chuyện kêu gọi xã hội hóa đầu tư vào truyền tải là không đơn giản. Cho tới nay, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Điện lực sửa đổi vẫn chưa được ban hành.
Còn nhớ, khi Luật Điện lực sửa đổi 2022 có hiệu lực được sáu tháng, các chuyên gia của Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) thừa nhận, có rất nhiều vấn đề đặt ra trong quá trình luật hóa các quy định để áp dụng chung cho việc đầu tư vào truyền tải giai đoạn sắp tới.
Ông Đặng Huy Cường, thành viên Hội đồng Thành viên EVN cho biết, tư nhân đầu tư đường dây cùng nhà máy điện của mình để giải tỏa công suất thì thu hồi được chi phí đầu tư truyền tải thông qua hợp đồng bán điện cho EVN, hoặc từ các nhà đầu tư thuê truyền tải điện của mình tới điểm kết nối để lên lưới quốc gia. Song, nếu chỉ là dự án tăng cường ổn định truyền tải lưới điện, thì ai là bên trả tiền cho nhà đầu tư vì EVN sẽ không trả khoản này.
Vốn - câu hỏi chưa có hồi đáp
Theo công bố của Đoàn kiểm tra liên ngành về chi phí sản xuất-kinh doanh điện năm 2021 và năm 2022 của EVN, năm 2021, giá thành khâu truyền tải điện theo điện thương phẩm là 65,78 đồng/kWh, năm 2022 là 69,44 đồng/kWh.
Trên thực tế, giá truyền tải điện vài năm trở lại đây cao nhất chỉ là 100 đồng/kWh, mức được cho là không hấp dẫn nhà đầu tư tư nhân nếu quyết tâm tham gia truyền tải đơn thuần. Đó là chưa kể, mức giá truyền tải hiện nay quy định là thống nhất trong cả nước, không phân biệt địa hình, vùng miền. Trong khi đó, các công trình khác nhau, ở các địa hình khác nhau, thì giá xây dựng sẽ khác nhau.
Theo ông Nguyễn Tài Anh, Phó Tổng Giám đốc EVN, giá truyền tải ở Việt Nam hiện rất thấp, nhưng đây là nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước giao, nên dù lợi nhuận bằng 0%, hay tầm 3%, EVN vẫn phải cố. Nhưng tư nhân thì không dễ chấp nhận mức tỷ suất lợi nhuận này vì có rất nhiều việc khác để làm với tỷ suất lợi nhuận cao hơn.
Như vậy, với danh mục không dưới 500 dự án đường dây và trạm biến áp nhiều cấp điện áp khác nhau được ghi tên và tiến độ trong Quy hoạch điện VIII, có thể nhìn thấy tương lai khó hấp dẫn tư nhân vào đầu tư, nếu không gắn với nhà máy của họ và không có giá tốt.
Đi vào lý giải nhận định trên, chuyên gia Nguyễn Thái Sơn đến từ Hội đồng Khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam mới đây cũng chỉ ra, chính sự chồng chéo, bất cập của chính sách đang trói buộc kế hoạch phát triển truyền tải điện quốc gia. Cụ thể, đối với vấn đề tư nhân tham gia đầu tư vào truyền tải, ông Sơn cũng cho rằng, nhà đầu tư tư nhân có lợi thế do có thể bỏ qua các quy trình thủ tục mà doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải thực hiện theo quy định đối với việc sử dụng vốn nhà nước.
Chẳng hạn, trong giải phóng mặt bằng, nhà đầu tư tư nhân có thể tự quyết định và đàm phán tự do với các chủ sở hữu đất (bản chất là nhà đầu tư tư nhân sẵn sàng đền bù đất đai với đơn giá vượt quá rất nhiều so đơn giá của Nhà nước quy định), trong khi doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện thủ tục đền bù giải phóng mặt bằng phức tạp theo đơn giá của Nhà nước nên nhiều khi không đạt được đồng thuận với chủ sở hữu sử dụng đất gây kéo dài công tác chuẩn bị xây dựng. "Điều này dẫn tới phát sinh mới là tạo tiền lệ đẩy giá đền bù đất đai, giá hỗ trợ hạn chế sử dụng đất cho hành lang tuyến tăng và cũng tạo tiền lệ không chấp hành đơn giá đất của Nhà nước quy định. Đây là một khó khăn mới phát sinh, làm phức tạp thêm tình hình đền bù, giải phóng mặt bằng cho xây dựng và vận hành đường dây điện", ông Sơn nhận định.
Bởi vậy, câu chuyện xác định rõ ràng về nội dung phạm vi độc quyền nhà nước và phạm vi tư nhân hóa việc đầu tư lưới điện truyền tải là cần thiết. Song song, cần nhanh chóng xây dựng một số văn bản quy phạm pháp luật dưới luật về việc tư nhân tham gia đầu tư lưới truyền tải điện.
Dĩ nhiên, trong lúc đó, việc tham gia của tư nhân vào đầu tư truyền tải sẽ còn là câu hỏi chưa có lời đáp rõ ràng.