“Truyện Kiều” còn lắm điều hay!

Cuốn “Truyện Kiều” bản Tiên Điền vốn được biết đến từ lâu nhưng có lẽ thật sự chưa mấy ai có được! Chỉ biết đây là bản do cụ Nghè Mai, hậu duệ trực hệ của Nguyễn Du, từng giao cho cụ Phạm Kim Chi và cụ Phạm đã biên tập, cho xuất bản ở Sài Gòn cách nay hơn một thế kỷ với tên Kim Túy tình từ.

“Truyện Kiều” còn lắm điều hay!

1. “Truyện Kiều” còn lắm điều hay! Đó là nhận xét của người viết bài này khi được đọc cuốn “Truyện Kiều” - bản Tiên Điền do Hội đồng gia tộc Nguyễn Tiên Điền tổ chức biên soạn, NXB Hội Nhà văn phát hành tháng 10/2025 nhân kỷ niệm 260 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du, danh nhân văn hóa được UNESCO vinh danh.

Cuốn sách này có nhiều điều khác biệt so với các ấn phẩm lâu nay ta thường biết. Đó là một cuốn sách khổ lớn: 22 cm × 35 cm được đóng bìa cứng nặng hơn 2 kg, chữ quốc ngữ nôm và chữ quốc ngữ latin song song, chú thích kỹ lưỡng và có những phát hiện.

Xét về hình thức, phải công nhận đây là một cuốn sách đẹp bởi cách trình bày trang nhã, mầu sắc bật nổi nét trầm, ấm, minh họa hình ảnh có đường nét sắc, gọn, tinh tế, chữ in rõ ràng trên nền hoa văn mầu vàng sang trọng. Sách cũng nhiều tranh minh họa của các họa sĩ xưa nay vẽ về từng nhân vật, khung cảnh, tình huống… mà tác phẩm miêu tả. Điều này giúp người đọc không chỉ tiếp nhận nội dung qua câu, chữ, mà còn tiếp nhận bằng thị giác, tiếp nhận qua hình ảnh nhằm tăng thêm cảm xúc với tác phẩm.

2. Điều mới mẻ của cuốn Kiều, bản Tiên Điền này được tập trung ở phần văn bản và những lời khảo, chú, bình. Về văn bản quốc ngữ nôm, các nhà biên khảo đã khá công phu tham khảo đến 47 văn bản, từ bản nôm năm 1875 đến bản 2018 của các nhà khảo cứu có uy tín và thể hiện rõ ở phần văn bản quốc ngữ latin quen thuộc với mọi người. Cũng từ bản quốc ngữ latin, nhóm biên soạn đã trung thành với bản nôm, không tự ý phân đoạn, không đặt thêm đề mục và đặc biệt chú ý về chính tả như: Không đánh thêm các dấu phẩy, dấu chấm ở dòng 6, dòng 8 của câu thơ, chỉ bổ sung một số dấu chấm than, chấm hỏi, hai chấm mở ngoặc kép phù hợp với ngữ cảnh, viết hoa các tên riêng theo yêu cầu của chính tả ngày nay (Ở bản nôm “Truyện Kiều” không có các dấu câu, không viết hoa tên riêng). Đây là một tiếp thu rất kịp thời và đúng đắn kết quả của cuộc tọa đàm về chính tả trong “Truyện Kiều” do Hội Kiều học Việt Nam, Hội đồng gia tộc Nguyễn Tiên Điền và Viện Nghiên cứu danh nhân tổ chức hồi đầu năm 2025.

Trong phần chú giải, đóng góp mới nhất là lý giải về những con số được phản ánh trong “Truyện Kiều”. Các nhà khảo cứu đã chỉ ra rằng, Nguyễn Du khi đưa các con số vào “Truyện Kiều” đã sử dụng từ nhiều góc nhìn, có con số ước lệ, có con số biểu tượng, vì vậy, khi tiếp nhận người đọc không nên hiểu quá “thật thà”! Chẳng hạn, số 10. Đây là con số theo quan niệm dân gian là số thập toàn (Thánh Gióng hay Bà Triệu được miêu tả cao một trượng, tức 10 thước). Còn số 5, trong văn hóa dân gian có ý nghĩa là rõ ràng, là căn bản, là đầy đủ. Còn số 3, “ba năm rõ mười” là sự tối thiểu (không phải như sau này người ta sửa lại “ba năm rõ mười lăm”!). Vậy 5 là căn bản, 10 là hoàn toàn nên “vai năm tấc rộng” là vai rộng, ngực nở nang, thể hiện sự cường tráng, còn "thân mười thước cao” là người có tầm nhìn xa, nhìn lớn, người có khát vọng làm thủ lĩnh. Các từ “thước”, “tấc” là từ phiếm chỉ.

Đọc Truyện Kiều, chỉ đơn cử một con số 3: "Ba thu dọn lại một ngày dài ghê", "Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng", "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài", "Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần", "Có ba trăm lạng việc này mới xuôi", "Hẳn ba trăm lạng kém đâu", "Cực trăm ngàn nỗi dặn ba bốn lần"…, người ta thú vị về cách giải thích khá mới mẻ và cũng khá hợp lý.

3. Từ đấy, các nhà biên khảo chỉ ra quan niệm về số của phương Tây và phương Đông có những khác biệt. Số 3 chẳng hạn, với người phương Tây là đại diện cho đầu, giữa và cuối, nhưng ở phương Đông, số 3 là tượng số mang tính ước lệ: Ba đánh một không chột cũng què, ba gai ba đồ, một nắng hai sương... Với cách hiểu ấy, khi giải thích câu thơ 543: "Ngoài ngàn dặm, chốc ba đông" thì phải hiểu "ba đông" là cách diễn đạt mang tính ước lệ. Con số 3 nhằm diễn đạt cho sự đủ đầy của cái lạnh lẽo của ba mùa đông hoặc ba năm. Một câu khác, "Liệu đem tấc cỏ, quyết đền ba xuân". Số 3 đại diện cho sự đủ của tính chất ước lệ mùa xuân. Không phải ba tháng mùa xuân mà là "ba xuân", công sinh thành của cha mẹ. Câu này phải hiểu là: Quyết đem tấc lòng nhỏ mọn đền đáp công sinh thành to lớn của mẹ cha.

Văn bản mà Hội đồng gia tộc Nguyễn Tiên Điền phát hành hiện nay là một cố gắng rất đáng trân trọng của dòng họ và công sức đóng góp của các nhà Kiều học. Mong người yêu mến “Truyện Kiều”, trân trọng các giá trị văn hóa Việt Nam tiếp tục tìm hiểu để giới thiệu thêm những vẻ đẹp, điều hay của một tác phẩm, một thi phẩm trác tuyệt.