Thư mùa hạ -Truyện ngắn của BẢO VĂN

Tờ báo của chúng tôi thường lấy phòng bạn đọc làm “nhiệt kế” thời sự. Những bài báo hay, những tin tức nóng thế nào, thư từ bạn đọc gửi về sẽ giúp chúng tôi tránh khỏi tâm lý “văn mình vợ người”. Nhưng chẳng hiểu vì sao dạo gần đây thư từ gửi về thưa thớt lắm.

Hằng ngày phòng bạn đọc chỉ nhận được vài tờ báo biếu và đôi khi dăm lá thư gửi nhầm địa chỉ.

Trong cuộc họp giao ban, một ý kiến nói: “Bạn đọc giờ có quá nhiều thứ để xem, nghe, đọc, thêm vào đó, dân trí còn thấp, kinh tế chưa phát triển, bởi vậy họ ít quan tâm đến báo ta”.

Một vài phóng viên không đồng tình cho rằng: “Nước ta bốn ngàn năm văn hiến sao lại bảo dân ta dân trí thấp? Mà thấp thì ai làm cho họ thấp?”. Đành rằng giờ có nhiều báo nhiều sân chơi, nhưng xem ra dân số cũng tăng gấp nhiều lần so với trước kia, lượng bạn đọc tiềm năng hẳn không giảm đâu. “Kinh tế khó khăn ư? Đã khó khăn bằng những năm đổi mới hay chưa?”. Đại khái ý kiến cho rằng, không nên đổ thừa nguyên nhân cho thiên nhiên địch họa hay suy thoái toàn cầu. “Hễ mất mùa thì đổ cho chuột phá hoại”. Họp xong, căng thẳng, rồi đâu lại vào đấy, trưa vẫn đi ăn cháo lòng, mà hộp thư báo vẫn trống trơn.

Sau có một ý kiến của phóng viên trẻ cho rằng “nên mở hộp thư điện tử”. Thật không ngờ, chỉ trong một ngày hộp thư nhận được hàng trăm phản hồi của độc giả. Chúng không hẳn là thư, có vẻ như ý kiến, nhưng ngắn thì cũng nên tính là thư ngắn. Cũng thật đáng tiếc, gần một nửa thư ngắn dành chỉ ra những khiếm khuyết bất cập của các bài báo đã in. Dẫu sao, máy in cũng chạy sè sè. Thậm chí phóng viên còn hào hứng: “Hãy phê phán tôi đi! Hãy trách móc tôi đi! Điều đó chứng tỏ các người đã đọc bài của tôi”.

Vâng, chúng tôi nhận ra một điều. Người ta giờ ngại ra bưu điện gửi thư, họ toàn gửi thư điện tử. Thời đại điện tử rồi. Bài báo đưa lên trang web ngay lập tức dăm phút sau đã có phản hồi từ hàng nghìn cây số xa xôi chứ không phải mấy ngày hôm sau mới nhận được. Chúng tôi bắt đầu thấy mình như đội bóng đã có người xem, như ca sĩ được hát trước khán giả, như cô gái đẹp tuổi cập kê có trai làng dòm ngó. Không khí làm việc khẩn trương hẳn, cuộc họp giao ban bao giờ cũng đem thư bạn đọc ra phân tích trước. Thư từ được chúng tôi phản hồi trong số báo hôm sau, mặc dù lời lẽ còn chung chung, song cũng được bạn đọc khen ngợi.

Cũng từ dạo ấy, cái hộp thư cũ kỹ của cơ quan hầu như bị lãng quên. Nó phủ bụi và trống trơ. Thế mà một hôm tôi vẫn nhận được một lá thư gửi đích danh cho tôi nằm trong góc khuất của cái hộp thư to như tổ chim bồ câu. Tôi thấy lạ vô cùng. Lòng tôi xao xuyến nhớ một thời vẻ vang của báo giấy.

Thư của một người mẹ,viết rằng: “Tôi muốn nhờ nhà báo viết bài chống tiêu cực, mà kẻ gây ra tiêu cực chính là con tôi”.

Đã mấy năm rồi mới nhận được lá thư gửi đích danh cho mình, tôi thu xếp công việc đi ngay. Tòa soạn cũng ủng hộ, xếp lá thư vào diện đơn kêu cứu khẩn cấp.

Tôi gặp người mẹ tên Lành, là cán bộ nghỉ hưu, ở vùng núi. Vùng này trước kia núi non trùng điệp, giờ rừng bị phá tan hoang, đất đai chia năm sẻ bảy, kẻ bán người mua như một thứ chợ rừng. Chỗ nào cũng bàn tán tới mảnh, miếng, khoảnh.

Người mẹ trình bày sự việc: “Con tôi câu kết với một số thành phần bất hảo, thường vào rừng đốt rừng, phát quang, rồi bán cho người khác lấy lời. Bạn nó dẫn mối những kẻ giàu ở thành phố lên mua gỗ, nó cùng những tên còn lại ở trong rừng, nhắm vào chỗ rừng nguyên sinh lắm gỗ tốt...”.

Tôi bảo với cô Lành: “Việc này hoàn toàn có thể đăng báo được, nhưng con cô sẽ gặp rắc rối to”.

Người mẹ ngồi yên một lát, rồi buồn rầu nói: “Khu rừng này xưa do cha nó bảo vệ. Ông được giao làm cán bộ kiểm lâm ở đây. Bao nhiêu năm trước khu rừng vẫn nguyên là rừng đầu nguồn. Ông đã sống và chết cho rừng. Năm ấy máy bay đánh phá vào tuyến giao thông chạy ngang đây. Trung đội dân quân do ông ấy chỉ huy đã chiến đấu suốt ba ngày và rừng bốc cháy. Ông đã chết khi cứu rừng. Một cây gỗ lớn bén lửa đổ vào người khi phát quang đường biên ngăn lửa. Trước khi chết ông trăng trối phải giữ lấy rừng. Vậy mà chính con trai ông giờ lại cùng bọn xấu phá rừng!”. Bà Lành khóc. “Tôi nhiều lần ngăn cản, nhưng nó ham bài bạc, ban đầu lén chặt vài ba cây, đến bây giờ là muốn đốn sạch khu rừng xưa cha nó bảo vệ. Ngôi nhà tôi dành dụm được cho nó cất lên cũng đem cầm cố rồi. Mấy đứa em của nó đều đi làm thuê, làm mướn, giờ lưu lạc, không biết ở đâu?” - Người đàn bà hơn 60 tuổi, đầu tóc bạc trắng kể trong nước mắt.

Người mẹ dẫn tôi ra đầu suối, hướng lên phía những quả đồi cháy đen ven đường, vái mấy cái, thưa: “Xin ông có khôn thiêng hãy chặn tội ác của con lại”.

Tôi được cô Lành cho gặp một số bà con trong vùng, họ mách: “Tụi phá rừng đang nhằm vào khu vực núi Tổ, vốn là nơi rừng thiêng, khi vào rừng không ai được đem theo dao búa”. Xưa nay rừng đó nguyên thủy, giữ cho mạch nước của làng được trong, ngọt. Những người dân nghèo chở tôi vào rừng bằng một chiếc xe trâu cũ kỹ, họ bảo vệ cho tôi quay phim bí mật, chụp ảnh những tên đốt rừng.Thật ra, mấy kẻ gọi là lâm tặc kia, theo bà con nói lại: “Chúng là kẻ làm thuê, thậm chí bị bắt làm việc như nô lệ. Lâm tặc chính là những kẻ giấu mặt, đâu từ thành phố về”.

Chúng tôi phải chờ đến lúc gần tối mới thấy có nhóm người đi ô tô vào kiểm tra việc chuẩn bị đốt rừng. Mấy kẻ này ăn mặc bảnh bao, béo tốt, không dùng dao rựa. Song chúng lộ vẻ hung hãn hơn người phát rừng. “Chính chúng mới là lâm tặc”. Bà con chỉ những kẻ bảnh bao kia bảo tôi. Bọn chúng bàn bạc với nhau một lúc rồi lên xe. Cô Lành bảo: “Tụi ấy về thị trấn ngồi chiếu bạc”.

Bài viết về đường dây phá rừng được đăng lên ở một góc tờ báo. Bọn lâm tặc hẳn cũng nhận được tin. Chúng tỏ ra hung hãn hơn. Chúng đã biết mình bị lộ nên càng thêm nổi lòng tham. Một buổi trưa mùa hè, chúng huy động hơn chục tên phá rừng thuê xông vào núi Tổ, nổi lửa đốt cháy đùng đùng.

Dân ta đã chuẩn bị sẵn, họ mang cuốc thuổng gậy gộc và các thứ dập lửa xông vào cứu rừng. Gần trăm con người xông vào rừng, chiêng trống, mõ ầm vang.

Bọn lâm tặc đã nắm được thông tin từ trước, chúng chặn đánh người cứu rừng, làm năm người bị thương. Lửa cháy ngút ngàn. Lực lượng cứu hộ chuyên nghiệp ở quá xa. Bọn lâm tặc thấy dân xông vào cứu rừng bèn đưa vài khẩu súng kíp ra bắn.

Chúng không ngờ, người mẹ đã lặn lội vào đơn vị quân đội cách đó bốn cây số để trình báo, lực lượng quân đội từ khe suối xông lên, bắn súng chỉ thiên, bắt sống được ba tên lâm tặc, thu giữ súng và bộ đàm của chúng. Đám còn lại chạy tán loạn.

Việc dập tắt lửa kéo dài hai ngày đêm mới hoàn thành. Hai chiến sĩ bị bỏng, bốn người dân bị thương. Ngọn núi thiêng chỉ bị cháy một phần.  

Sự việc qua đi. Mỗi ngày chúng tôi ra một số báo, sự kiện nhiều, không kịp ngoái lại xem mọi việc đến đâu. Một hôm, tôi nhận được thư của cô Lành, lá thư cũng viết bằng tay. Cô kể rằng: “Vụ án phá rừng đã được xử, rừng núi đã bình an”. Cô còn bảo: “Người nghèo khó cô đơn không còn lo bị phá rừng lấy gỗ nữa”. Cô rất mừng gửi lời cảm ơn chúng tôi đã giúp dân quê đúng lúc.

Tôi chuyển lá thư lên tòa soạn. Mọi người cảm động lắm. Chúng tôi viết nhiều bài có hiệu quả đời sống, nhưng lắm lúc lại chẳng nhận được một lời cảm ơn. Dẫu biết bạn đọc bận nhiều công việc, mà lắm lúc cũng se lòng.

Trưởng ban bạn đọc muốn viết một bài chân dung về cô Lành. Song vài ý kiến thấy “viết bài như vậy không dễ đâu”. “Chuyện về người mẹ viết thư tố cáo con của mình, hẳn có phải là một tấm gương điển hình chăng? Bất nhẫn thế nào ấy”. Câu chuyện xót xa ấy liệu có hợp với thể loại ký chân dung trên báo nhà? Tôi cũng nghĩ vậy.

Bẵng đi một thời gian, tôi có dịp đi qua vùng đất vô danh ấy. Dừng chân trên một ngã ba nhỏ, ghé quán cháo gà lúc xế chiều, tôi ngẩng đầu lên và thấy ngọn núi Tổ xa xa, chìm vào sương mù. Núi cao, xanh biếc. Mây trắng lượn quanh, như mái tóc mẹ già. Người bán cháo gà hỏi tôi đã từng qua lại vùng này chưa? Tôi kín đáo đáp rằng đây là lần đầu tiên được tới. Cô Thanh bán cháo kể lại câu chuyện về một người mẹ đã viết đơn tố cáo con để giữ gìn rừng núi quê hương. Tôi hỏi người mẹ đó đang ở đâu, cô Thanh lắc đầu: “Chị ấy đã qua đời”.

Một hôm, mùa đông, người ta thấy cô Lành nằm trên chiếc võng, cạnh bếp than, lặng lẽ ra đi. “Cô ấy ra đi thật nhẹ nhàng” - người bán cháo kể - “Dân làng bèn lập một cái miếu dưới chân núi để thờ”.

Đôi khi tôi nghĩ chính cô Lành đã dạy cho tôi cách viết báo. Hay đúng hơn là chính tình yêu chồng, yêu quê hương của cô giúp tôi hoàn thành bài báo ngay trước khi ngọn lửa khủng khiếp thiêu rụi ngọn núi cuối cùng. Sau này tôi được biết bài báo đã đến tay đơn vị quân đội và họ đã quyết định triển khai lực lượng để bảo vệ ngọn núi.

Như lệ thường, chúng tôi đến cơ quan. Câu đầu tiên hỏi nhau: “Hôm nay bạn đọc có phản ứng gì không?”.

Đi ngang qua hộp thư báo to đùng ở cổng, tôi nhìn vào và chợt nhớ tới lá thư lấm lem bùn đất mà cô Lành đã gửi cho tôi năm nào.

Tôi có thói quen đọc thư bạn đọc ngay bên hộp thư. Cùng với những dòng chữ viết vội, tôi đã thấy những hạt bụi đỏ bay lả tả theo từng trang giấy học trò nhầu nhĩ, lấm lem than bụi và có cả những giọt mồ hôi làm mực ướt nhòe. Và tôi nghĩ viết gì cũng thế ở hình thức và số lượng nhiều khi lại không ấn tượng bằng một lá thư viết chỉ vài dòng trên giấy kẻ. Vâng, hình như có nhà thơ nào đó đã viết rằng ông thích viết ngay ngắn trên những tờ giấy kẻ dòng.