(Tiếp theo và hết)
Lịch sử Việt Nam không dưới một lần chứng kiến sức sống mạnh mẽ của văn hóa - nghệ thuật truyền thống, bất chấp những thăng trầm. Để bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống trong thời kỳ mới, xây dựng thành công lớp nghệ sĩ kế cận đủ tâm và đủ tầm chính là giải pháp cấp thiết.
Thầy tận tâm tìm trò tận lực
Khi tìm giải pháp toàn diện cho nghệ thuật truyền thống, nhất thiết phải gỡ được “nút thắt” từ những vấn đề thực tế. Trong bối cảnh khó khăn chung của nghệ thuật truyền thống thời hiện đại, đào tạo phải là điểm đầu tiên phải lưu tâm. Trước hết, cần có giải pháp đồng bộ từ khâu sàng lọc đầu vào, nâng cao chất lượng đào tạo và sau đó mới là tìm kiếm đầu ra, xây dựng “sân chơi” cho nghệ thuật truyền thống. Cũng dễ hiểu khi giới trẻ ngày càng có điều kiện tiếp cận rất nhiều loại hình nghệ thuật và giải trí mới, hoặc sức ép từ cuộc sống mưu sinh khiến các em bị “phân tâm”, thiếu sự yêu thích đối với nghệ thuật truyền thống. Nhưng thực tế phải ghi nhận không ít bạn trẻ yêu và khát khao làm nghệ thuật truyền thống. Tuy nhiên, chỉ có tình yêu thì chưa đủ, phải cần có ngoại hình, năng khiếu và sự khổ luyện. Vậy làm thế nào để tìm được những người trẻ đủ những yếu tố đó khi lựa chọn đầu vào vốn đã ít ỏi?
Câu trả lời nằm ở chính trong gia đình các nghệ sĩ, đặc biệt là nghệ thuật truyền thống tại thành thị và ở những “cái nôi” của nghệ thuật truyền thống vùng nông thôn. Trước hết, như con em các gia đình làm nghệ thuật truyền thống có lợi thế tiếp xúc với vốn cổ từ rất sớm. Nếu không kể tới các yếu tố di truyền, việc tiếp cận, luyện tập sớm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm hun đúc tình yêu và tài năng với nghệ thuật truyền thống trong các em. Như trường hợp của thầy Phạm Hữu Dực, Trưởng khoa Kịch hát dân tộc, Trường đại học Sân khấu và Điện ảnh, thầy chia sẻ: “Như con gái tôi khi còn nhỏ, ban đầu tôi không định cho đi theo nghệ thuật truyền thống vì mình nhận thấy phải thật sự rất đam mê và tài năng thì mới đỡ vất vả. Sau một thời gian cho bạn ấy học piano, violin cả trong và ngoài nước thì thật bất ngờ, cháu lại nhất định muốn trở thành một diễn viên chèo”.
Trong khi đó, ở những cái nôi của nghệ thuật truyền thống như vùng nông thôn của Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình… thật sự là mảnh đất “trù phú” về nhân tài mà các đoàn nghệ thuật chính quy cần về nhiều hơn để kiếm tìm. “Đơn cử như tuyển sinh khóa 2014 - 2018 cho nghệ thuật tuồng, chúng tôi phải đi nằm vùng từng huyện từ Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Nguyên cho tới tận Thanh Hóa, Nghệ An. Tuyển sinh không thể chỉ đăng lên thông báo và truyền thông mà phải trực tiếp đi tìm mới có thể sàng lọc những người có thanh, có sắc”, NSND Hồng Khiêm, diễn viên Nhà hát Tuồng Trung ương chia sẻ. Có những tố chất ban đầu đó thì mới có thể đào tạo được một nghệ sĩ đủ thuần thục về động tác, cách diễn và ngữ khí... Nghệ sĩ đủ “thanh, sắc, thục, tinh, khí, thần” thì mới thành công được với nghệ thuật cổ. Khắc nghiệt như thế nên giữa hàng trăm người mới tuyển được vài chục người đủ chất lượng.
Học hát ca là chưa đủ…
Những bất cập trong quá trình đào tạo cũng cần được cải thiện, cụ thể là chất lượng giảng dạy một số nơi đang làm suy giảm độ tinh về nghề của lớp trẻ. “Ngày trước, để học một làn điệu tuồng như “Nam ai” phải mất ít nhất một tuần. Học sinh có năng khiếu lắm cũng phải mất hơn một năm mới xong các làn điệu cơ bản. Đối với kỹ năng múa thì dạy song song liên tục suốt bốn năm. Khi đó, chuyên môn được ưu tiên lớn, nhiều khi học cả thứ bảy và chủ nhật. Bởi thế hiện nay, 10 ngày là xong một vai thì làm sao các cháu “ngấm” được?”, NSND Hồng Khiêm băn khoăn. Dù đã nghỉ hưu nhưng thường xuyên được mời giảng dạy, nghệ sĩ Hồng Khiêm cho biết, vẫn có một số nơi chỉ có hai buổi chuyên môn mỗi tuần. Thời lượng ít như vậy làm sao để các em hiểu và yêu nghệ thuật cổ? Không ngạc nhiên khi nhiều em rơi vào tâm lý chán nản, thậm chí “rơi rụng” giữa chừng.
Nghệ thuật truyền thống là tấm gương phản ánh sinh động những trang chính sử hào hùng của dân tộc hay đời sống phong phú của dân gian. Làm sao một nghệ sĩ trẻ có thể diễn nhập tâm, thành công với những vai anh hùng trong tuồng, chèo nếu như không tìm hiểu bối cảnh, thân thế hay câu từ của nhân vật lịch sử? Bởi vậy, khâu đào tạo cần đủ thời lượng cả chuyên môn lẫn kiến thức bổ trợ về văn hóa, lịch sử. Các em cũng cần kinh nghiệm thành công và cả những thất bại trong làm nghề từ thế hệ đi trước, những người đã kinh qua vô số đêm diễn.
“Nhiều năm nay nhà trường đã và đang thực hiện chương trình kiến tập, đưa các lớp học sinh quan họ về học các nghệ nhân tại các làng quan họ gốc để các em học hỏi thêm bài bản, cách ca của nghệ nhân, phân biệt được phong cách hát của người làm nghề chuyên nghiệp và cách hát của các nghệ nhân, tìm hiểu thêm về lối chơi, cách sinh hoạt của người quan họ. Ngoài ra, các em học sinh được học nhiều các môn về âm nhạc có thể bổ trợ cho môn chuyên ngành như: nhạc lý, ký xướng âm... Các em được uốn nắn các kỹ thuật phát âm, nhả chữ, khẩu hình, cách biểu diễn...”, thầy Lê Mạnh Quỳnh, Trưởng khoa Quan họ, Trường trung cấp Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Bắc Ninh cho biết.
Mất nhiều công sức đào tạo đến vậy, nhưng khó khăn chưa dừng ở đó đối với số ít ỏi sinh viên tốt nghiệp ra trường. Lấy thí dụ tại đoàn nghệ thuật tuồng chính quy, hợp đồng cho một suất diễn một vở là khoảng 15 - 20 triệu đồng, chia cho 20 - 30 con người thì chẳng còn là bao. Tiền bồi dưỡng cho vai chính từ 200 - 300 nghìn đồng/ngày tập, vai phụ khoảng trên dưới 100 nghìn đồng/ngày tập. “Mức lương chưa biên chế hơn hai triệu đồng làm sao đủ để mình các em sống nổi ở thành phố? Có những em được biên chế nhưng vẫn phải bỏ nghề vì biết thu nhập tương lai sẽ không đủ nuôi gia đình. Càng xót xa và thông cảm với những em phải bỏ nghề bao nhiêu, chúng tôi càng cảm ơn những người ở lại bấy nhiêu”, NSND Hồng Khiêm ngậm ngùi.
Tìm tín hiệu vui cho nghệ thuật truyền thống
Phải khẳng định, Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm và hỗ trợ cho việc bảo tồn và phát triển nhiều ngành nghệ thuật truyền thống. Thí dụ cụ thể như ngày 15/6 vừa qua, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư về Danh mục ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng. Danh mục này được áp dụng từ ngày 30/7 và trong đó có các môn nghệ thuật cổ.
Bên cạnh đó, có lẽ đã tới lúc các đơn vị nghệ thuật truyền thống chính quy cần thêm sự thay đổi trong tư duy và vận hành, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn ngân sách Nhà nước, chú trọng hơn tới nguồn lực xã hội hóa. Nhìn ra thế giới, nhiều nghệ sĩ trẻ chuyên nghiệp của nghệ thuật truyền thống đều có thu nhập cao, thậm chí có thể thành ngôi sao được công chúng hâm mộ. Vậy nên giải pháp thiết thực tiếp theo nên là đưa những “hạt giống” trở về với “mảnh đất” dân gian, nuôi lớn bằng “cơn mưa” nguồn lực từ xã hội.
Câu chuyện làm nghề với các đoàn tuồng địa phương của NSND Hồng Khiêm chính là thí dụ rõ rệt cho quan điểm đó. Là một nghệ sĩ tuồng tài năng được “thế hệ vàng” như NSND Bạch Trà và NSND Quang Tốn tận tâm đào tạo, nhưng NSND Hồng Khiêm vẫn không khỏi ngạc nhiên, mê say với sức sáng tạo phong phú, tài ứng biến diễn xuất của nghệ sĩ địa phương trong thể loại “tuồng cương”. Sự đầu tư của các đoàn nghệ thuật địa phương và tình yêu tuồng của quần chúng nhân dân trở thành động lực cho các nghệ sĩ nghỉ hưu như NSND Hồng Khiêm tiếp tục cống hiến. “Sáng làm đồng, tối diễn tuồng nhưng các bạn đồng nghiệp địa phương tự đầu tư phục trang, sân khấu nhiều lúc còn công phu, tốn kém hơn đoàn nghệ thuật chính quy. Số lượng và chất lượng vở diễn có đầu tư nên thu hút được lượng khán giả lớn và thường xuyên. Nhờ đó, hợp đồng các vở diễn ở địa phương cũng cao hơn rất nhiều qua sự tài trợ của nguồn vốn xã hội hóa”, nữ nghệ sĩ bày tỏ. Nhiều học trò theo chân NSND Hồng Khiêm đã được nâng cao trình độ thông qua nhiều vở diễn, vai diễn phong phú của kho tàng dân gian, thậm chí không có trong các đoàn chính quy. Nhiều vở diễn được tài trợ cũng đồng nghĩa với việc thu nhập của nghệ sĩ trẻ được cải thiện đáng kể.
Tương tự, các bộ môn nghệ thuật khác như chèo, quan họ hay cải lương… cũng khởi sắc khi có thêm nhiều hợp đồng nghệ thuật giúp cải thiện thu nhập của nghệ sĩ. Các địa phương bắt đầu chú trọng tổ chức các hội thi nghệ thuật truyền thống với cơ cấu giải lớn hơn nhờ nguồn vốn xã hội hóa. Đây có thể coi là “sân chơi” nên khuyến khích cho các nghệ sĩ, đặc biệt là nghệ sĩ trẻ thêm cơ hội cọ xát, trau dồi năng lực và gây dựng danh tiếng. Ngoài ra, một trong số các chính sách quan trọng nhằm phát triển du lịch địa phương hiện nay là tổ chức lễ hội truyền thống, các Festival nghệ thuật, nổi bật như Festival Huế, Festival biển Nha Trang - Khánh Hòa… Các sự kiện văn hóa như vậy là cơ hội quý giá vừa giúp đông đảo các đoàn nghệ thuật hồi sinh những giá trị truyền thống xưa, vừa góp phần kiến tạo giá trị kinh tế thiết thực từ du lịch.