Tháo gỡ rào cản chính sách đối với người khuyết tật

Câu chuyện bốn nhân viên khiếm thính của một đơn vị hoạt động theo mô hình doanh nghiệp xã hội bị từ chối mở thẻ ATM để nhận lương mới đây, phần nào cho thấy thực tế: Cuộc sống đời thường của người khuyết tật (NKT) còn đối mặt với nhiều rào cản. Trong khi, nhiều chính sách, ưu đãi dành cho NKT vẫn còn thiếu tính khả thi, đang đòi hỏi cơ quan chức năng cần sớm tháo gỡ.

Chị Nguyễn Thùy Chi (bên phải) luôn sống lạc quan, dù như chị chia sẻ, đã xin việc nhiều nơi nhưng không nơi nào nhận.
Chị Nguyễn Thùy Chi (bên phải) luôn sống lạc quan, dù như chị chia sẻ, đã xin việc nhiều nơi nhưng không nơi nào nhận.

Khó tiếp cận an sinh xã hội

Phải đi lại trên chiếc xe lăn, chị Nguyễn Thùy Chi, tốt nghiệp Học viện Báo chí và Tuyên truyền nhiều năm nay vẫn đang loay hoay trên hành trình tìm việc làm. Dù đã đề đạt nguyện vọng ở một số nơi nhưng khi nhìn thấy chị phải di chuyển khó khăn, lo ngại không đủ sức khỏe nên những nơi chị nộp đơn đều khéo léo từ chối, dù họ nói rằng rất muốn tạo điều kiện để chị có một công việc tự nuôi sống bản thân. Chị Thùy Chi nhận ra, NKT khó tìm công ăn việc làm, lý do chính vẫn là những rào cản về nhận thức đối với họ. Dù không ít NKT đã nỗ lực vượt lên mọi khó khăn về khiếm khuyết của bản thân, trang bị cho mình vốn kiến thức và kỹ năng nhất định, song họ vẫn phải trăn trở với câu hỏi: Ai chấp nhận tuyển dụng NKT?

Mới đây nhất, nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và xã hội, khi tiến hành khảo sát đối với 10 đại diện cơ quan, tổ chức thực hiện chính sách và cung cấp dịch vụ cho NKT và 55 người khuyết tật trong độ tuổi lao động, kết quả tổng hợp đến tháng 1-2016, chỉ ra: NKT hiện nay gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận thị trường lao động, như thiếu cơ hội việc làm, chưa được đào tạo nghề đúng mức cũng như tư vấn chọn nghề. Cùng với đó, NKT thiếu thông tin tìm kiếm, lựa chọn công việc, kênh thông tin tìm việc của họ chủ yếu thông qua giới thiệu của người thân, bạn bè. NKT còn thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ bị mất việc làm cao. Nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế trong chính sách bảo hiểm đối với NKT, như chỉ 8,7% NKT tham gia BHXH bắt buộc, 2,1% tham gia bảo hiểm tự nguyện. Nguyên nhân của tình trạng này là bởi chúng ta chưa có chính sách về chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động đối với NKT, trong khi quy định số năm đóng góp tối thiểu 20 năm để hưởng lương hưu là chưa phù hợp. Lý do nữa là NKT không có việc làm ổn định dẫn đến tỷ lệ tham gia BHXH thấp. Ở lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, có tới 31% NKT chưa tham gia bảo hiểm y tế, hệ thống trang thiết bị chưa thật sự phù hợp với NKT.

Đa số NKT mà chúng tôi gặp tại buổi tọa đàm “Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đối với người khuyết tật” tại Hà Nội ngày 17-9, chia sẻ họ gặp khó khăn trong tiếp cận các công trình công cộng, khó khăn khi tiếp cận thông tin, tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch cũng như tham gia giao thông. Khi đi xe buýt, xe khách, tàu hỏa nhiều nơi chưa có đầy đủ trang thiết bị phục vụ NKT. Bà Dương Thị Vân - Chủ tịch Hội Khuyết tật TP Hà Nội cho biết, trên thực tế Bộ Xây dựng đã có Thông tư, ban hành kèm theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về “Xây dựng công trình bảo đảm NKT tiếp cận sử dụng”. Tuy nhiên, rất hiếm công trình công cộng, giao thông, khu đô thị mới, trụ sở làm việc trên địa bàn Thủ đô có thiết kế riêng phù hợp nhu cầu sử dụng của NKT. Đây chính là rào cản khiến NKT khó hòa nhập cộng đồng.

Cần gỡ bỏ rào cản Theo số liệu năm 2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Việt Nam có trên 7 triệu NKT, chiếm 7,8% dân số. Trong đó 28% là NKT dạng vận động, 15% khuyết tật nghe nói, 16% khuyết tật nhìn, 17% khuyết tật thần kinh, tâm thần, 15% khuyết tật trí tuệ, còn lại là các dạng khuyết tật khác. Theo ông Phạm Đại Đồng - Trưởng phòng Chính sách, Cục Bảo trợ xã hội, sau khi Luật Người khuyết tật (có hiệu lực từ 1-1-2011) và Nghị định hướng dẫn có hiệu lực thi hành, đã có rất nhiều chính sách, đề án liên quan đến NKT được thực hiện. Các quy định của Luật Người khuyết tật nhìn chung đã đi vào cuộc sống và có tác động tích cực như các chính sách bảo trợ xã hội, giáo dục hòa nhập, nhưng cũng còn những chính sách hạn chế trong việc triển khai thực hiện như chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, dạy nghề, việc làm, thực hiện lộ trình cải tạo nhà chung cư, công trình công cộng… bảo đảm tiếp cận đối với NKT.

Nguyên nhân của tình trạng này được lý giải là do sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan chưa hiệu quả, công tác tham mưu, đề xuất của ngành chuyên môn còn chưa kịp thời, một bộ phận cán bộ chuyên trách cấp địa phương còn yếu chuyên môn, nghiệp vụ, kiêm nhiệm công việc khác nên thiếu nghiên cứu sâu để nắm chắc các văn bản chính sách pháp luật về NKT, do đó hạn chế trong việc tổ chức thực hiện.

Nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng, tăng cường, mở rộng sự hỗ trợ cũng như đồng bộ hệ thống an sinh xã hội đối với tất cả nhóm NKT là đòi hỏi cấp thiết của cộng đồng NKT hiện nay. Đặc biệt, cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường hỗ trợ khả năng tiếp cận việc làm cho NKT bên cạnh hỗ trợ họ tham gia các hoạt động văn hóa xã hội. Cần sớm đưa ra những hoạch định chính sách phù hợp hơn trong tình hình mới, về lâu dài có thể xem xét sửa đổi Luật Người khuyết tật. Muốn vậy, thời gian tới các cấp chức năng cần đánh giá lại tình hình thực hiện Luật Người khuyết tật, thực hiện rà soát tổng thể chính sách pháp luật về NKT. Bên cạnh việc tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận thức chính sách pháp luật về NKT bằng nhiều hình thức, nhằm nâng cao trách nhiệm của cộng đồng, xã hội đối với hoạt động trợ giúp NKT, cần cụ thể hóa các mục tiêu, giải pháp về công tác NKT vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương.

Thiết nghĩ, cùng với những nỗ lực xóa bỏ rào cản từ chính bản thân NKT bằng những suy nghĩ và hành động tích cực, xã hội cần có những nhìn nhận công bằng và nhân văn hơn từ góc độ tiếp cận quyền con người đối với NKT, giúp họ tự tin tham gia các hoạt động xã hội, được làm việc nuôi sống bản thân, và có cơ hội cống hiến cho xã hội.

Có thể bạn quan tâm