Dị ứng do tiếp xúc sơn ta: Khế thái miếng hoặc dùng lá vò đắp xát trực tiếp lên da tổn thương hoặc uống. Thường chọn lá khế tươi già, lấy nước cốt uống, quả để rửa vết thương lở loét.
Nước ăn chân: quả khế chín lùi trong tro nóng áp lên chỗ tổn thương. Bí đái: lấy một quả khế, một củ tỏi giã nhuyễn đắp lên rốn.
Cảm cúm: sốt, đau mình, hắt hơi sổ mũi, ho, dùng ba quả khế nướng vắt nước cốt hòa 50 ml rượu để uống.
Phong nhiệt mẩn ngứa mề đay: Vỏ cây khế cạo bỏ lớp ngoài sắc uống.
Trẻ em bị sởi: Thúc sởi mọc bằng cách lấy lá và vỏ nước nấu cho trẻ tắm.
Ðái dắt, đái buốt, đái ra máu do viêm bàng quang, âm đạo: Lá cây khế 100g, rễ cỏ tranh 40g, sắc uống một tháng.
Viêm họng: Lá khế 40g, thêm vài hạt muối giã nhỏ, vắt nước cốt ngậm.
Cảm nắng, sốt, khát nước, nhức đầu: 100g lá khế tươi, 40g lá chanh, giã vắt lấy nước uống hoặc quả khế tươi nướng qua vắt lấy nước uống.
Ho khan hoặc có đờm: Hoa khế, tẩm nước gừng sao qua lửa, sắc lấy nước uống, có thể thêm cam thảo nam.
Sơ cứu ngộ độc mã tiền: Ép quả khế lấy nước uống thật nhiều. Tuy nhiên cần thận trọng vì mã tiền rất độc có thể dẫn đến tử vong, vì thế nên đưa người bệnh đi bệnh viện ngay sau khi sơ cứu.
Ðặc biệt khế có thể dùng để thanh nhiệt, giải độc khi bị nhiễm phóng xạ và hóa chất, khi điều trị ung thư bằng cách rửa sạch khế gói trong vải khô vắt lấy nước, thêm nước đường nấu sôi. Sau đó cho thêm táo tây gọt vỏ thái miếng, cùng chuối, cam múi, nho thái nhỏ, nấu sôi cho bột rồi múc ra bát uống.