“Tấm căn cước” của nhà văn

Mỗi nhà văn là một thế giới riêng. Mỗi tác phẩm là một bản khai sinh tinh thần không thể trùng lắp. Bởi vậy, cuộc tranh luận trong đời sống văn học hôm nay đang dịch chuyển từ một câu hỏi mang tính kỹ thuật sang một câu hỏi mang tính bản thể: Liệu người viết có còn giữ được “tấm căn cước” của mình hay không?

Theo nhiều chuyên gia, AI ảnh hưởng đến lĩnh vực sáng tạo văn học, nhưng không thể thay con người rung động. Ảnh: VĂN HỌC
Theo nhiều chuyên gia, AI ảnh hưởng đến lĩnh vực sáng tạo văn học, nhưng không thể thay con người rung động. Ảnh: VĂN HỌC

Nửa đầu thế kỷ XX, Xuân Diệu viết:“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” (Nhị hồ), Văn Cao viết: “Từ trời xanh/rơi/vài giọt Tháp Chàm” (Quy Nhơn), và Hàn Mặc Tử: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/Có chở trăng về kịp tối nay?” (Đây thôn Vĩ Dạ)... Đó là những câu thơ viết dưới góc nhìn siêu thực, lạ hóa không gian, phá vỡ mọi quy luật vật lý để nhào nặn nên một bức tranh thị giác vừa hư, vừa thực. Chắc chắn đó là những câu thơ “trời cho” viết trong lúc cảm xúc thăng hoa, vụt trào. Những câu thơ tài hoa như thế không nhiều, là tài sản tinh thần của nhà thơ và của thi ca Việt Nam. Gần một thế kỷ trôi qua nhưng thơ không cũ.

Bây giờ sau gần một thế kỷ, sao hiếm những câu thơ xuất thần như thế? Nhiều bài thơ, câu thơ có tứ thơ hay, câu thơ đẹp, nhưng đó là loại thơ thông minh, thơ được lập trình, có cả “thơ AI”, “văn AI”, đọc qua “biết liền”, vì dễ nhận ra nhất ở chỗ nó không hề có cảm xúc. Trí tuệ nhân tạo (AI) một ngày lừng lững đi vào đời sống con người. Đã xuất hiện những cách gọi có phần thậm xưng “thời đại AI”, “kỷ nguyên AI”. Điều đáng nói là, văn học nghệ thuật cũng mở rộng cánh cửa đón người khổng lồ không rõ hình hài ấy bước vào.

Xin nhắc đến một câu hỏi tưởng như rất cũ nhưng lại trở nên cấp thiết trong lúc này: Điều gì làm nên một nhà văn? Liệu có phải khả năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ thuật kể chuyện, hay là vốn tri thức phong phú, sự điêu luyện trong sắp đặt câu chữ? Nếu chỉ trả lời từng ấy câu hỏi thì có lẽ người cầm bút hôm nay đang đứng trước một đối thủ đáng gờm. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người xuất hiện một công cụ có khả năng xử lý ngôn ngữ với độ tinh vi và linh hoạt chưa từng có: AI. Nó có thể tạo ra một bài thơ, một truyện ngắn, một bài tiểu luận hay một bài phê bình văn học gần như tức thời. Người khổng lồ ấy có thể đọc được khối lượng văn bản khổng lồ, ghi nhớ vô số phong cách, mô phỏng nhiều giọng điệu khác nhau và ngày càng tỏ ra thành thạo trong việc tạo lập văn bản.

Nhưng chính lúc này đây, một sự thật căn bản của văn chương nhắc chúng ta rằng, tác phẩm văn học không phải chỉ nằm ở văn bản. Tác phẩm là căn cước tâm hồn của người viết. Một bài thơ hay là dấu vết của một đời sống. Một truyện ngắn xuất sắc không đơn thuần là một câu chuyện được kể hấp dẫn mà là sự kết tinh của những trải nghiệm, những suy tư, những ám ảnh mà nhà văn đã mang theo suốt nhiều năm tháng. Quan niệm ấy từng được thể hiện trong tư tưởng nghệ thuật nổi tiếng của nhà văn Nam Cao: “Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có” (Đời thừa, viết năm 1943).

Tự cổ chí kim, mọi tác phẩm lớn đều in dấu vân tay tinh thần của người sáng tạo. Đọc Nguyễn Du, ta bắt gặp một tâm hồn đau đáu về thân phận con người. Đọc Nguyễn Tuân, ta bắt gặp một tâm hồn tài hoa, một vốn văn hóa uyên bác và một cá tính nghệ thuật không thể trộn lẫn. Đọc Nam Cao, lắm khi ta cảm thấy nghẹt thở trước một trái tim luôn day dứt trước nhân phẩm của những kiếp người lam lũ, bị dồn ép đến chân tường. Những nhà văn ấy không giống nhau bởi họ sở hữu những căn cước tinh thần khác nhau. Chính sự khác biệt đã làm nên sự phong phú của văn học.

Phải nhận rằng, AI có thể tạo ra những văn bản khá hoàn chỉnh, làm xong một bài thơ trong vài chục giây. Tôi có lần đã thử tài chàng thi sĩ này, rằng hãy viết giúp tôi một bài thơ tặng Báo Nhân Dân đổi mới. Và không phải chờ lâu, bạn ấy viết đúng mười câu, trong đó có những câu thơ ngô nghê thế này:“Từ những con chữ thức cùng ánh đèn đêm năm tháng/ Báo Nhân Dân đi qua bao mùa đất nước đổi thay/ Hôm nay, dòng tin bay theo những tia sáng thời số hóa/ Nhưng phía sau màn hình vẫn là trái tim con người...” .Đúng là nếu nhìn văn chương như một sản phẩm ngôn ngữ thuần túy, ta có thể kinh ngạc trước khả năng ấy. Nhưng văn chương chưa bao giờ chỉ là ngôn ngữ. Văn chương còn là ký ức, là trải nghiệm, là cảm xúc, là những va đập giữa con người với cuộc đời. AI có thể mô tả tuổi thơ nhưng không có tuổi thơ. AI có thể kể tỉ mỉ về nỗi trống vắng, hoang lạnh, nhưng không biết cô đơn là gì, nó không bao giờ viết được câu thơ kiểu như Vườn thức một mùi hoa đi vắng (Lê Đạt). AI có thể nói về khổ đau, mất mát nhưng không chạm vào da thịt vì chưa từng mất mát, khổ đau. Trong khi đó, nguồn gốc sâu xa nhất của văn chương lại nằm ở những điều không thể sao chép ấy.

Đáng lo hơn, nếu sự lệ thuộc ấy trở nên phổ biến, văn học sẽ dần mất đi sự đa dạng vốn là nguồn sống của nó. AI được xây dựng trên nguyên tắc tổng hợp cái phổ biến nhất từ hàng triệu văn bản. Trong khi đó, văn chương đích thực luôn bắt đầu từ cái riêng biệt. Một nền văn học khỏe mạnh cần hàng trăm tiếng nói khác nhau, tiếng đục, tiếng trong, tiếng trầm, tiếng bổng, tiếng núi rừng, tiếng phù sa, tiếng đầu sông, tiếng cuối bãi, “tiếng tha thiết nói thường nghe như hát”... Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân ví von, mỗi nghệ sĩ sở hữu một giọng hát, như lời bài ca quan họ “trên rừng ba mươi sáu thứ chim” vậy. Tương tự, một nền văn học giàu khát vọng đổi mới và luôn tự làm giàu mình bằng những cuộc giao cảm với thế giới, có hàng trăm cách nhìn khác nhau về cuộc đời. Nếu cùng dựa vào một nguồn gợi ý, cùng một chiếc khuôn ngôn ngữ, rất có thể độc giả phải chứng kiến sự xuất hiện của những tác phẩm xếp cạnh nhau mà nhòe lẫn vào nhau như những bóng người đi trong sương.

Những vụ việc đạo văn, vay mượn hoặc sử dụng AI để ngụy tạo tác phẩm trong thời gian qua vì thế không chỉ là câu chuyện đạo đức nghề nghiệp. Chúng còn cho thấy một sự nhầm lẫn nguy hiểm, nhầm lẫn giữa văn bản và văn chương. Một văn bản có thể được tạo ra bằng nhiều cách. Nhưng văn chương đích thực luôn phải mang theo dấu vết của một tâm hồn. Không có tâm hồn ấy, tác phẩm chỉ còn là lớp vỏ ngôn ngữ. Gần đây trường hợp tác giả trẻ L.V.M là một điển hình cùng lúc phạm vào hai lỗi rất đáng trách, đạo thơ nhờ bàn tay AI. “Nhà thơ” này đã dùng AI dịch thơ của một nhà thơ Ấn Độ rồi copy y chang và biến thành thơ mình. Và suýt nữa, nếu không có sự phát hiện của bạn đọc, “tác phẩm” được trao giải thưởng (cho sự mới lạ trong tứ thơ và cách lập ý thông minh).

Bài học không chỉ cho L.V.M. Bài học này dành cho tất cả những ai đang hằng ngày trăn trở với từng con chữ, rằng, nhiệm vụ lớn nhất của nhà văn trong thời đại số không phải là chạy đua với máy móc. Nhà văn không tồn tại nhờ những ưu thế ấy. Nhà văn để lại dấu ấn bằng khả năng cảm nhận thế giới bằng trái tim của mình. Sống đã rồi hãy viết. Sống sâu sắc say sưa. Thời nay càng phải sống sâu hơn, quan sát kỹ hơn, suy nghĩ độc lập hơn và trung thực hơn với những rung động của chính mình. Nếu trước đây người viết phải chống lại sự thiếu thốn thông tin thì hôm nay phải chống lại sự bội thực thông tin. Nếu trước đây phải tìm kiếm tư liệu thì hôm nay phải bảo vệ tiếng nói riêng trước biển dữ liệu khổng lồ.

11-2.jpg
Các cây bút phải không ngừng sáng tạo, nâng cao chất lượng tác phẩm, thu hút bạn đọc. Ảnh: VĂN HỌC

Sau tất cả, câu hỏi “Nhà văn, anh là ai trong thời đại AI?”, tôi nghĩ rằng, câu trả lời giản dị phía sau mỗi trang viết đã nói thay chúng ta. Trước sau gì, nhà văn vẫn là người gửi được phần tinh túy nhất của tâm hồn mình vào tác phẩm. Đó là ký ức riêng, trải nghiệm riêng, cảm xúc riêng, nhân cách riêng và cách nhìn riêng đối với cuộc đời. Nhà văn Salman Rushdie là một tiểu thuyết gia người Anh, cho rằng: “Hiện các nhà văn vẫn an toàn trước AI, ít nhất cho đến khi nó có thể khiến con người bật cười”. Đằng sau câu nói có vẻ hài hước này là một quan niệm sâu sắc, văn chương không đơn giản là khéo sắp xếp ngôn từ mà hơn thế là sự từng trải, óc hài hước, nỗi đau và những nghịch lý của đời sống con người.

Văn chương đích thực không phải là sản phẩm của thuật toán. Văn chương là căn cước tâm hồn của một con người. Chừng nào con người còn khát vọng được bày tỏ chính mình, còn muốn đối thoại với người khác bằng những rung động chân thật nhất của trái tim, chừng đó văn học vẫn sẽ tồn tại như một trong những biểu hiện đẹp đẽ nhất của nhân tính.

Lịch sử văn học nhân loại là lịch sử của những căn cước tâm hồn độc đáo. Mỗi nhà văn là một thế giới riêng. Mỗi tác phẩm là một bản khai sinh tinh thần không thể trùng lắp. Bởi vậy, cuộc tranh luận hôm nay đang dịch chuyển từ một câu hỏi mang tính kỹ thuật sang một câu hỏi mang tính bản thể: Liệu người viết có còn giữ được “tấm căn cước” của mình hay không?