“Tay mềm” bền nghề đẽo đá

Dọc hai bên tuyến đường liên thôn Xuân Phú và Phú Thượng (xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, Đà Nẵng) là làng nghề đá chẻ Hòa Sơn với những túp lều, đống đá ngổn ngang và hàng tá âm thanh chát chúa phát ra. Ở đó, những người phụ nữ che mặt bằng tấm khẩu trang mỏng, đội chiếc mũ lụp xụp, đeo đôi găng tay vải cũ sờn, cùng với một cái búa nhỏ và một thanh kim loại dẹt cứng đang mưu sinh với nghề.
Gia đình chị Đào chẻ đá thành phẩm.
Gia đình chị Đào chẻ đá thành phẩm.

Gia đình cùng làm đá

Trong hàng trăm người làm nghề đá ở làng Hoa Sơn, có đến hơn một nửa lao động là phụ nữ. Hàng chục năm qua, những đôi bàn tay yếu mềm nay đã chai sạn, họ kiên trì làm việc để có nguồn thu nhập trang trải cho cuộc sống, cho con em cắp sách đến trường.

Chị Phạm Thị Bích Đào, sinh năm 1987 (trú thôn Phú Thượng, xã Hòa Sơn) vung búa nhỏ gõ xuống chiếc đục sắt để miếng đá dày 5cm tách ra chính xác mà không cần lần tìm vân đá. Đến nay, cũng vừa tròn 20 năm chị Đào đã làm cái nghề “khô khốc” này. Chị kể, lúc mới làm nhiều lần sơ ý bị búa xoẹt vô tay, chảy máu cũng là chuyện thường xảy ra. Bên cạnh đó là bị đau nhức tai vì tiếng búa đập đá, tiếng máy cưa đá. Nhưng nhờ có sự đồng hành, chỉ dẫn bởi những người đi trước trong gia đình nên chị dần thành thục rồi cũng quen tiếng ồn, thấy mọi việc đều đơn giản.

Chị Đào chia sẻ: “Nói không quá thì gia đình tôi có duyên với nghề này, từ cha mẹ ruột cho đến chồng, em gái và giờ là con tôi. Ba mẹ tôi đã đến với nghề để nuôi chị em tôi trưởng thành, bây giờ ba mẹ tôi đã có một cơ sở làm đá đủ lớn. Một cơ sở có lán trại rộng rãi, có những máy cưa đá mạnh, có nguồn nguyên liệu dồi dào, có khách hàng ổn định. Nhờ vậy mà tất cả thành viên trong gia đình có việc làm quanh năm”.

Không ai nghĩ rằng, người phụ nữ tuổi 36 có vóc dáng nhỏ bé này đã là mẹ của bốn đứa con. Con nhỏ nhất hơn hai tuổi, đứa lớn nhất của chị cũng đã 17 tuổi. Mỗi ngày, chị Đào cùng chồng đi làm đều chở theo con gái nhỏ nhất đến chỗ làm để vừa làm vừa trông con. Những đứa con còn lại của chị, những ngày không đi học đều theo ba mẹ vào xưởng.

Hằng ngày phải tiếp xúc thường xuyên với khói bụi từ máy cưa đá, nguy cơ mắc phải các căn bệnh về đường hô hấp cũng tăng cao, nhiều lần chị Đào được người thân khuyên chuyển nghề. Nhưng với chị, được làm nghề mình gắn bó, được trò chuyện cùng người thân lúc rảnh rỗi và đem lại nguồn thu nhập ổn định là những điều giúp chị sẽ tiếp tục bám trụ với nghề. “Nghề này nói cực thì rất cực nhưng nói nhàn thì cũng có cái nhàn. Bởi vì làm ăn theo sản phẩm, ai siêng năng thì thu nhập cao hơn. Muốn làm lúc nào, làm bao nhiêu cũng được, không bị ép buộc hay gò bó gì cả. Nghề nào chẳng khó, nhưng làm đá thu nhập ổn định hơn so với làm ruộng đồng”, chị Đào tâm sự.

Chị Bình chạm khắc tượng.

Chị Bình chạm khắc tượng.

Người phụ nữ tạc tượng

Điểm đặc trưng khi đến làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước (phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn) là không thể thiếu hình ảnh các pho tượng được xếp hàng dài dọc trên đường, những lớp bụi đá phủ trắng và phấp phới bụi bay từ những máy mài, máy cưa đá. Dưới bàn tay của các nghệ nhân nơi đây, những khối đá vô tri trở thành các pho tượng đầy tinh xảo, ấn tượng thông qua sự tỉ mỉ, trau chuốt của những người thợ. Chị Lê Thị Hòa Bình (trú phường Hòa Hải) là một trong những người thợ đó. Chị Bình sinh năm 1976, là một trong số hiếm những người phụ nữ gắn bó với công việc tạc tượng đầy bụi bặm này suốt hơn 23 năm qua.

Chị Bình nhớ lại, đầu những năm 2000, chị làm nghề may vốn chỉ quen cầm kim với chỉ. Khi lấy chồng làm điêu khắc tại làng đá mỹ nghệ Non Nước, hằng ngày chị phụ giúp chồng đánh bóng, mài dũa các pho tượng lúc thời gian rảnh. Từ đó, chị đã mê nghề này lúc nào không hay. Sau khoảng thời gian thuyết phục gia đình, chị đã chính thức bước chân vào nghề bằng những kiến thức được cầm tay chỉ việc từ chồng. “Ngày tôi quyết định học nghề, gia đình ai cũng ngăn cản, cũng vì công việc này vất vả, ảnh hưởng đến sức khỏe và vốn thường dành cho đàn ông khỏe mạnh. Những lúc mới cầm máy, tay cầm không chặt nên có lúc bàn tay bị thương, việc đứng liên tục hàng giờ đồng hồ để mài, đục cũng khiến lưng bị đau nhiều hơn”, chị Bình trải lòng.

Tại làng đá mỹ nghệ Non Nước, tuy có nhiều phụ nữ làm nghề, nhưng đa số là làm đánh bóng, mài tượng. Chị Bình, là một trong số ít phụ nữ có thể làm toàn bộ các khâu để cho ra một pho tượng hoàn chỉnh, từ tham gia phác họa, điêu khắc tỉ mỉ cho đến mài tượng. Để hoàn thành một bức tượng, chị phải trải qua nhiều công đoạn và tốn nhiều thời gian. Khi điêu khắc, bắt buộc chị phải ghì máy bào thật chắc, tì mạnh vào khối đá cứng và liên tục trong nhiều giờ liền.

Người phụ nữ 47 tuổi có bàn tay thô ráp, sần sùi, nhưng lại rất khéo léo và kiên nhẫn. Với chị, điều quan trọng là phải thổi “hồn” được vào cho tác phẩm. Chị Bình cho biết: “Phải thật cẩn thận, kỹ lưỡng để bức tượng chuyển tải được nội dung mà mình mong muốn. Chỉ cần một chi tiết không đúng ý mình cũng ảnh hưởng đến toàn bộ bức tượng. Không chỉ vậy, mà người thợ giỏi phải không ngừng học hỏi để đáp ứng yêu cầu của khách hàng, bắt buộc thường xuyên tự mày mò, tìm hiểu các kiến thức chuyên sâu về cơ thể con người và về văn hóa, nghệ thuật của nhiều quốc gia nhằm tạo ra nhiều bức tượng có đa dạng tư thế sống động”.

Với chị Bình, công việc điêu khắc đá cho dù là người đàn ông hay phụ nữ, chỉ cần có niềm đam mê và sự kiên trì với nghề thì ắt sẽ thành công. Động lực của chị là người con trai út trong số ba người con của chị cũng đã dần thích theo nghề này. Chị Bình tâm sự: “Nó học ngành Công nghệ điện, vừa ra trường năm rồi, tôi cũng không nghĩ là nó sẽ làm nghề của cha mẹ. Cũng nhờ kiến thức bên kỹ thuật mà nó đem áp dụng cho việc tạc tượng, giúp cho công việc của chúng tôi dễ dàng hơn. Được chỉ bày những kiến thức về nghề, chia sẻ kinh nghiệm cho con giúp tôi vững tin hơn vào nghề điêu khắc đá này”.

Phải ngồi, đứng liên tục để chẻ, để khoan, rồi mùi từ đá tỏa ra, các chị đang đối diện hàng giờ với nguy cơ mắc bệnh đau lưng, xương khớp và nhiều bệnh về đường hô hấp. Nhưng vì cuộc sống và cả vì niềm yêu thích mà những người phụ nữ ấy đã chọn được sống một đời cùng đá, tiếp tục lao vào lớp bụi lẫn trong tiếng đục đẽo, tiếng vang của đá cho đến khi không còn sức lực để theo đuổi.

Có thể bạn quan tâm

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.