Hồn tre trăm tuổi

​Tôi tìm đến căn nhà nhỏ nằm ẩn mình dưới bóng cây râm mát ở TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh) vào một buổi trưa nắng gắt phương nam. Trong căn nhà nhỏ xinh, bên chiếc bàn gỗ mộc, một cụ bà tóc bạc trắng, ngồi xe lăn, lưng đã còng nhưng ánh mắt vẫn tinh anh, đang cặm cụi dùng thước kẻ từng đường viền xanh lá trên trang giấy học trò. ​Đó là cụ Nguyễn Thị Cúc, phu nhân nhà ngoại giao Nguyễn Đức Quỳ (Đào Bình Luống), người vừa bước qua tuổi 100.

Cụ bà Nguyễn Thị Cúc.
Cụ bà Nguyễn Thị Cúc.

Tờ giấy trắng có chữ ký Bác Hồ

​Cụ Cúc đã gần như mất thính lực, chúng tôi phải trao đổi thông tin qua hình thức “bút đàm”. Nhưng bên tách trà ấm, những dòng ký ức của người phụ nữ bách niên đưa tôi ngược lịch sử về những ngày mùa thu năm 1945. Thuở ấy, cô nữ sinh Nguyễn Thị Cúc đang học Trường Pháp Sisowath ở Phnom Penh cùng anh ruột tham gia đường dây bí mật vận chuyển vũ khí từ Campuchia về bưng biền Nam Bộ. Bị địch bắt giam rồi vượt ngục thành công, bà về căn cứ Đồng Tháp Mười, được giao nhiệm vụ trực tiếp làm phiên dịch hỏi cung tù binh Pháp cho Tư lệnh miền - Trung tướng Nguyễn Bình.

“Nhưng bước ngoặt đối ngoại của đời tôi là khi được tổ chức điều động sang Thái Lan năm 1949”, cụ Cúc nhấp ngụm trà, giọng chùng xuống. “Lúc bấy giờ, Phái viên quán Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Bangkok do ông Nguyễn Đức Quỳ (tên thật là Đào Bình Luống) là trưởng phái viên đang rất cần người tin cậy thạo tiếng Pháp, tiếng Anh để làm công tác thông tin và phiên dịch”. Cụ được cử sang Thái Lan đảm nhận nhiệm vụ này. Đây là cơ quan đại diện chính thức đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở hải ngoại.

Nhắc đến người chồng quá cố - nhà ngoại giao tiền bối Nguyễn Đức Quỳ, ánh mắt cụ Cúc lấp lánh niềm tự hào. Ra đi từ nhà tù Sơn La, chưa từng qua trường lớp ngoại giao, hành trang của ông vỏn vẹn hai mảnh giấy. “Tờ thứ nhất là tờ hộ chiếu ngoại giao đánh máy đơn sơ bằng ba thứ tiếng Anh, Pháp, Hoa xin các nước giúp đỡ người mang giấy. “Tờ thứ hai đặc biệt lắm”, nhớ lại, giọng cụ Cúc đột nhiên phấn chấn, "Đó là một tờ giấy trắng tinh, phía trên in tiêu đề Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa - Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc, dưới cùng là chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. “Bác Hồ đã ký sẵn tờ giấy trắng ấy trao cho đồng chí Quỳ, dặn dò phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, phòng khi hữu sự thì điền vào, tức là trao toàn quyền quyết định linh hoạt nơi đất khách cho đồng chí Quỳ”, cụ Cúc giải thích thêm, “Ông Quỳ giữ tờ giấy ấy như sinh mệnh trong người, sợ lọt vào tay kẻ xấu thì nguy hại khôn lường. Mãi đến năm 1951 khi về lại chiến khu Việt Bắc, ông mới trao giấy lại tận tay Bác Hồ”.

Không phụ niềm tin yêu của Bác Hồ và chính phủ, cơ quan đại diện ngoại giao đầu tiên của nước ta tại hải ngoại đã làm nên những kỳ tích. Bằng sự chân thành, phái đoàn đã vận động hơn 20 vạn kiều bào hướng về Tổ quốc. Tổng hội Việt kiều là tổ chức tập hợp toàn thể Việt kiều ở Thái Lan được thành lập, quyên góp hàng ngàn lượng vàng, chuyển hàng trăm tấn vũ khí, máy in, thiết bị y tế về chiến trường trong nước.

Thời kỳ tại Thái Lan, cụ Cúc tham gia công tác hành chính, hậu cần ngoại giao, giữ vững mạng lưới liên lạc và chăm lo, gắn kết phong trào của Tổng hội Việt kiều tại địa bàn tác nghiệp đầy cam go. Nhiều năm theo chồng làm ngoại giao, bản thân cụ Cúc cũng là một trong những gương mặt nữ cán bộ ngoại giao tiêu biểu, âm thầm cống hiến trên nhiều mặt trận, từ phái bộ Đông Nam Á, cơ quan đại diện tại các nước XHCN đến ngoại giao văn hóa và tuyên truyền đối ngoại.

52.jpg
Bản thảo trả lời phỏng vấn của cụ Cúc.

​Cốt cách cây tre và đạo lý nghĩa tình

Tuổi cao, cụ Cúc vẫn ngồi viết từng dòng trả lời khi tôi hỏi về chính sách ngoại giao cây tre của Việt Nam thời kỳ đó. Cụ bảo, người ta hay bàn về ngoại giao bằng những ngôn từ đao to búa lớn, nhưng với cụ, ngoại giao Việt Nam giản dị mà kiên cường như lũy tre làng.

​“Cây tre nghìn năm gắn bó với dân tộc ta. Tre không bao giờ mọc riêng lẻ mà đứng thành bụi, thành lũy, che chắn giông bão. Cành tre mềm mại uyển chuyển trước gió nhưng thân tre dẻo dai không gãy, rễ bám sâu vào lòng đất. Ngoại giao nước mình cũng vậy, lấy độc lập dân tộc, lợi ích quốc gia làm gốc, lấy sự linh hoạt, mềm dẻo, nhân ái làm cành lá ứng xử”. ​Cụ Cúc giải thích, sức mạnh ngoại giao của Việt Nam trước hết là sức mạnh của lẽ phải và lòng nhân văn.

Trong Lời kêu gọi Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp ngày 10/1/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và Việt ngừng chảy. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau". Còn trong trả lời tạp chí The Minority of One (nguyệt san độc lập của nhóm trí thức tiến bộ, phản chiến Mỹ do Menachem Shamir Arnoni chủ biên), được công bố trong số phát hành tháng 5/1964 dưới hình thức một bức thư ngỏ gửi Tổng biên tập và nhân dân Mỹ, Người viết: “Chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào miền Nam chúng tôi phải gian khổ, hy sinh, mà chúng tôi cũng thương xót cho các bà mẹ và các người vợ Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa”. Những lời đó xuất phát từ sự chân thành, tính nhân văn và lòng nhân ái đã lay động cả thế giới. Đã có nhiều người tiến bộ ủng hộ Việt Nam. Như cô gái Pháp Raymonde Dien dám đem thân mình chặn đoàn tàu chở xe tăng sang Việt Nam của thực dân Pháp, như Mục sư, Tiến sĩ Martin Luther King, người được Giải Nobel hòa bình công khai phát biểu đòi chấm dứt cuộc chiến tranh phi nghĩa tại Việt Nam.

Đan xen giữa những câu chuyện lịch sử, cụ Cúc nói với tôi về nét độc đáo xuyên suốt trong tư tưởng đối ngoại của đất nước ta đó chính là đạo lý biết ơn và trả ơn: ​“Dân tộc mình nghèo tiền bạc nhưng chưa bao giờ nghèo nghĩa tình. Ai giúp mình lúc hoạn nạn, mình nhớ suốt đời”. Cụ Cúc cũng nhắc lại câu chuyện nghĩa hiệp của đất nước Cuba thời chiến tranh đã giúp Việt Nam xây bệnh viện, làm đường sá. Bây giờ, khi nước bạn gặp khó khăn, nhân dân Việt Nam thông qua Mặt trận Tổ quốc đều đồng lòng hưởng ứng chiến dịch ủng hộ.

Sự có mặt của Việt Nam trên trường quốc tế, từ việc cử lực lượng gìn giữ hòa bình, khoan giếng tìm nước, dựng trường học tại châu Phi, đến những đoàn cứu hộ cùng đàn chó nghiệp vụ băng qua đống đổ nát sau động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ, Venezuela... tất cả đều khởi đi từ mạch nguồn văn hóa bao dung, thủy chung của một dân tộc luôn trân trọng hòa bình.

​Lời cây tre cổ thụ

​Nắng trưa đã dịu, xuyên qua ô cửa sổ, rót những vệt sáng vàng nhàn nhạt lên mu bàn tay đồi mồi của người phụ nữ trăm tuổi.

Cụ Cúc dốc những lời gan ruột: ​“Từ thế hệ của chúng tôi, đã có hàng triệu đồng bào, chiến sĩ ngã xuống để có được ngày độc lập, thống nhất non sông. Thế nhưng, đất nước của chúng ta, chế độ mà các bậc tiền nhân kiên trì vun đắp vẫn luôn là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch”. Ánh mắt của cụ bỗng trở nên nghiêm nghị: “Muốn ngoại giao vững vàng, giữ được vị thế trên bản đồ thế giới, đất nước phải có nội lực tự cường. Lớp trẻ hôm nay vừa phải xây dựng, vừa phải bảo vệ Tổ quốc. Nhưng quan trọng hơn cả là tuổi trẻ phải có học vấn, có bản lĩnh và trí tuệ. Nếu thế hệ kế tục mà học vấn kém cỏi, tinh thần ốm yếu thì đất nước sẽ suy thoái, biến thành miếng mồi ngon cho ngoại bang”.

​Tôi rời căn nhà ở Thủ Đức khi ráng chiều dần buông. Trong ba-lô, tôi mang theo những trang viết tay kẻ viền xanh thẳng tắp, phía dưới cùng có dòng chữ ký mộc mạc: “10-7-2026. Bà già 100 tuổi - Nguyễn Thị Cúc”.

Cây tre cổ thụ 100 tuổi đang khuất dần về phía hoàng hôn của cuộc đời, nhưng lời của tre vẫn còn đây, bản thảo vẫn còn đây. Ở tuổi bách niên, đã kinh qua thăng trầm lịch sử, đã chứng kiến những thời khắc chuyển giao vận mệnh vĩ đại của dân tộc, điều đọng lại duy nhất trong lòng người phụ nữ này là vận mệnh non sông và vị thế của Tổ quốc trước bè bạn năm châu.

Có thể bạn quan tâm

Bản Hà Lẹc nhìn từ trên cao.

Đổi thay khi nhà sàn đón... người lạ

Một buổi chiều đầu thu, mây từ đỉnh Trường Sơn đổ xuống bản Rum Ho (Kim Ngân, Quảng Trị), phủ mờ những mái nhà sàn nép mình bên triền núi. Tiếng suối len qua từng phiến đá, tiếng gió xào xạc trong tán cây và mùi khói bếp quyện vào hương rừng. Trong căn nhà sàn của mình, chị Hồ Thị Son lặng lẽ trải từng tấm đệm mới.

Tiết mục “Thiên thần đến từ Thiên hà” giành Vương miện Bạc tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026 diễn ra từ ngày 28/5 đến 31/5/2026 tại thành phố Saratov, Liên bang Nga.

Những thiên thần của thánh đường xiếc

Chỉ còn chưa đầy 5 tiếng nữa, tiết mục "Đu Ô" sẽ chính thức công diễn lần đầu tiên. Trong phòng tập của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, tiếng nhạc vẫn đều đều vang lên, xen lẫn những nhịp hô ngắn của huấn luyện viên và âm thanh của đạo cụ va chạm sau mỗi lần tiếp đất. Trên tấm thảm tập đã sờn màu, nữ nghệ sĩ Trần Thanh Hòa và NSƯT Thu Hương (Liên đoàn Xiếc Việt Nam) lặp đi lặp lại từng động tác. Một cú xoay chưa đủ đẹp lại làm lại từ đầu. Một nhịp bắt tay chưa thật khớp cũng phải thực hiện thêm nhiều lần.

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.