Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).
Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Hành trình quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) hôm nay tiếp nối truyền thống uống nước nhớ nguồn, sau nén hương tri ân là lời hồi đáp bằng hành động thực tiễn, là nỗ lực tìm lại để đưa các anh từ chiến hào về với quê hương, đồng đội, gia đình.

Kỳ 1: Vượt “mê cung” vật nổ

Trên những sườn núi từng bị bom đạn cày xới ở xã Thanh Thủy (Tuyên Quang), mỗi bước chân của người lính công binh đều phải đặt xuống thật chậm. Dưới lớp đất tơi xốp, giữa rễ vầu và dấu tích chiến hào, những quả mìn “nằm ngửa nằm nghiêng” dù hơn 40 năm vẫn có thể phát nổ bất cứ lúc nào. Phía sau họ là đội tìm kiếm, quy tập đang chờ một lối đi an toàn để tiếp cận những vị trí nghi có HCLS.

Dò từng tấc đất, mở lối tìm đồng đội

Đường lên khu vực rà phá bom mìn ở điểm cao 1.100 hướng lên điểm cao 1.509 (thôn Nậm Ngặt, xã Thanh Thủy, Tuyên Quang) có độ dốc cao chỉ vừa đủ cho một người đi. Hai bên là vầu mọc ken dày, rễ cây chằng chịt trên lớp đất trơn trượt. Những chiến sĩ công binh nối nhau men theo đường dông (đoạn nối giữa các đỉnh núi - PV), bước đúng vào dấu chân của người đi trước. Không ai được phép tự ý rời khỏi tuyến đã đánh dấu. Ở nơi này, chỉ một bước chân lệch khỏi phạm vi an toàn cũng có thể chạm phải vật liệu nổ còn nằm im dưới đất.

Trên vai người lính là máy dò, dao phát, cuốc xẻng và những chiếc cọc cờ nhỏ dùng để đánh dấu. Nhưng phần lớn công việc ban đầu vẫn phải thực hiện thủ công. Các chiến sĩ phát dọn từng bụi cây, quờ tay dọn từng lớp lá mục gạt sang một bên. Khi mặt đất đã làm sạch thành từng khoảnh, cẩn thận đưa máy dò tiếp cận cho đến khi bảo đảm không có dấu hiệu bất thường, anh Pa Văn Bích, Tổ phó Tổ rà phá khu vực điểm cao 1.100 nói: “Mỗi ngày trời nắng là anh em lại lên. Trời mưa thì bắt buộc phải dừng để bảo đảm an toàn”.

Trung tá Nguyễn Văn Triệu, Chỉ huy trưởng công trường rà phá bom mìn, Dự án thành phần số 2 (Rà phá bom mìn, vật nổ khắc phục hậu quả sau chiến tranh giai đoạn 2025-2027 tại Quân khu 2) đã có gần 30 năm kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực đặc biệt hiểm nguy này. Anh cũng từng chỉ huy và trực tiếp tham gia rà phá, tháo dỡ bom mìn trên suốt tuyến biên giới thuộc Hà Giang (cũ) từ năm 2015. Từng nhận nhiệm vụ ở những điểm nóng với địa hình phức tạp như Móng Cái (Quảng Ninh), song Trung tá Triệu nhận định, khác với những nơi khác, thường có sơ đồ bãi mìn thì tại Vị Xuyên mìn và vật nổ nằm dày đặc, nhiều tầng nhiều lớp. Do trong quá khứ, các bên giành giật điểm cao qua lại nên có những vị trí chỉ hơn 100- 200 m2 nhưng tới 5-6 lượt gài mìn, mật độ lên tới hàng nghìn quả.

Với cán bộ, chiến sĩ rà phá, nguy hiểm nhất là các loại mìn vỏ nhựa như 652A, M19, K58, hoàn toàn không có độ nhiễm từ, nên còn được coi là mìn “bẫy người” vì máy dò mìn hiện đại gần như đầu hàng, buộc chiến sĩ phải dùng thuốn rà soát từng centimet đất. Theo nguyên lý, mìn thường rải trên mặt đất hoặc sâu 7-30 cm, nhưng do pháo kích và đất sạt lở qua hàng chục năm, có những quả mìn vùi sâu tới 60-70 cm, thậm chí vật nổ trong hầm sập nằm sâu tới vài ba mét. Nhiều quả vẫn còn khả năng gây sát thương, nằm lẫn trong đất đá hoặc dưới những lớp lá mục tích tụ qua nhiều năm.

52.jpg
Mìn bộ binh 652A vừa được các chiến sĩ rà phá.

Những “chiếc bẫy” qua thời gian

Những quả mìn nằm lâu năm dưới đất đã như những chiếc bẫy chực chờ. Người lính công binh triển khai phát dọn thực bì, dò bằng máy, quan sát mặt đất rồi cào rà thủ công. Mỗi thao tác đều phải thực hiện chậm, đều và đúng kỹ thuật. Khi phát hiện dấu hiệu nghi là vật liệu nổ, người lính dừng lại, khoanh vùng và xử lý theo quy trình là đào từ mép ngoài, xiên dần vào tâm để tiếp cận vật liệu nổ từ phía bên, tránh gây áp lực trực tiếp lên mặt mìn. Khi đã xác định được vị trí, cần đặt xẻng và các dụng cụ sắc nhọn sang một bên, dùng tay bới chậm từ hai phía, làm lộ dần vật thể rồi mới nhấc lên để quan sát tình trạng ngòi nổ, kim hỏa. Chỉ một động tác vội vàng cũng có thể phải trả giá bằng tính mạng. “Phải làm thật chậm, đúng từng động tác cơ bản. Không thể chủ quan dù chỉ một chút”, một lính công binh nói.

Lần rà phá này, kể cả những lúc gặp địa hình thuận lợi, lực lượng rà phá cũng chỉ hoàn thành khoảng 2 ha/ngày. Con số dù thấp hơn tiến độ dự kiến, nhưng vẫn cần đặt an toàn lên hàng đầu. Mỗi vật liệu nổ được phát hiện đồng nghĩa với việc cả khu vực chung quanh phải được rà soát kỹ hơn.

Kỷ niệm khiến anh Pa Văn Bích nhớ nhất là một ngày lực lượng vừa trở lại hiện trường sau nhiều ngày mưa. Trong lúc cào rà bằng phương pháp thủ công, một quả mìn bất ngờ lộ ra ngay trước mắt. Lực lượng công binh lập tức mở rộng phạm vi kiểm tra. Càng rà, số lượng vật liệu nổ xuất hiện càng nhiều. Cuối cùng, các chiến sĩ phát hiện khoảng 34 đến 35 quả mìn, chủ yếu là loại 652A và MD82B, chưa kể một số lựu đạn. Nhiều quả vẫn nằm trong những chiếc bao cũ. Theo nhận định ban đầu, đây có thể từng là một điểm tập kết vật liệu nổ trong thời kỳ chiến tranh. Sau hàng chục năm, đất đá và cây rừng đã che phủ gần như toàn bộ dấu tích. Nếu không cào rà kỹ, người đi qua rất khó nhận biết bên dưới có một lượng lớn mìn đang nằm sát nhau. Phát hiện ấy vừa là kết quả, vừa là lời cảnh báo về mức độ nguy hiểm của địa bàn. Không ai có thể biết dưới các rễ cây, hốc đá hoặc những đoạn hào bị lấp còn bao nhiêu vật liệu nổ chưa được phát hiện.

Công tác rà phá bom mìn, vật nổ nhằm mở hành lang an toàn, giảm nguy cơ cho cán bộ, chiến sĩ quy tập. Những vị trí phát hiện hầm hào hoặc dấu hiệu nghi có hài cốt được ghi tọa độ GPS, phác họa và báo cáo cấp trên. Khi phát hiện dấu vết liên quan đến vị trí chiến đấu cũ, lực lượng công binh cùng đội tìm kiếm quy tập HCLS cùng đối chiếu thông tin, xác định khả năng tìm kiếm. Chỉ sau khi rà phá toàn bộ mặt bằng, khu vực mới được bàn giao cho đội quy tập.

Các đường hào chạy vòng quanh đỉnh núi, kéo dài theo sườn tiền duyên, nên phải bám vào hệ thống hào và đường dông để xác định ranh giới rà phá. Một phần hệ thống hào tại đây từng được gọi là “đường hào mùa xuân”, tuyến cơ động quan trọng để vận chuyển lương thực, vũ khí và tiếp tế cho lực lượng chiến đấu ở khu vực điểm cao 1.100. Nay, chính những đường hào ấy trở thành dấu chỉ để lực lượng công binh lần tìm những vị trí từng đặt hầm trú ẩn, công sự hoặc nơi bộ đội hy sinh.

Khó khăn lớn nhất với lực lượng rà phá là thời tiết. Đất ở khu vực bình độ 1.100 vốn tơi xốp. Khi mưa lớn, nước chảy dọc sườn núi làm đất trượt xuống, cuốn theo lá cây, đá nhỏ và cả vật liệu nổ. Một quả mìn từng nằm ở mép hào có thể bị vùi sâu hơn hoặc trôi sang một vị trí hoàn toàn khác. Những dấu hiệu vừa được phát hiện hôm trước có thể biến mất sau một trận mưa. Đường lên núi cũng trở nên trơn trượt. Người lính mang theo máy dò và trang thiết bị nặng, chỉ cần trượt chân đã có thể ngã vào khu vực chưa được kiểm tra. “Đáng lo nhất là vật liệu nổ bị lún hoặc trôi dạt. Khi đó không ai dám đi lại tùy tiện vì không còn chắc đâu là vị trí an toàn”, anh Bích cho biết. Bởi vậy, cứ mưa là công việc phải tạm dừng. Vào ngày nắng, họ tranh thủ làm việc từ sớm. Từng tốp tiến vào khu vực được phân công, phát cây, mở mặt bằng, dò tìm rồi cắm cờ đánh dấu để xử lý vật nổ. Cuối ngày, diện tích hoàn thành được cập nhật trên sơ đồ.

Trên bản đồ, diện tích 500 ha được thể hiện bằng những đường ranh giới. Nhưng ngoài thực địa, đó là hàng nghìn sườn dốc, đường hào, bụi vầu và hốc đá phải kiểm tra từng mét. Phía trước lực lượng công binh là bom mìn chưa nổ. Phía sau họ là những người đang chờ được tiếp cận các vị trí nghi có hài cốt liệt sĩ. Bởi vậy, công việc rà phá không đơn thuần là làm sạch một khu vực từng có chiến tranh. Mỗi quả mìn được vô hiệu hóa, mỗi mét đường được xác định an toàn đều góp phần đưa lực lượng quy tập đến gần hơn với những người lính còn nằm lại.

Trên đỉnh chốt xưa, những lá cờ nhỏ tiếp tục được cắm xuống sau mỗi lần phát hiện vật liệu nổ. Giữa màu xanh của rừng vầu, chúng đánh dấu những nơi hiểm nguy vừa được nhận diện, đồng thời cũng là dấu mốc của một con đường đang dần được mở ra. Con đường ấy được tạo nên từ những bước chân thận trọng, những lần dùng tay bới từng lớp đất và sự kiên nhẫn của người lính công binh. Trong những hang sâu, khe đá và chiến hào cũ là những liệt sĩ nằm lại, đang chờ ngày trở về.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.