Điểu Duy Thành mới 9 tuổi, là thành viên nhỏ tuổi nhất của CLB Văn hoá truyền thống S’tiêng xã Tân Hưng (TP Đồng Nai). Nhưng cậu đã tự tin cùng các anh biểu diễn cồng chiêng thâm niên mấy năm qua, tự tin cầm dùi trống giữ nhịp cho dàn cồng của CLB, chẳng hề thua kém cha anh.
Tiếng trống ở Tân Hưng
Thành theo chân ba mẹ tham gia các hoạt động hát múa, biểu diễn cồng chiêng của đồng bào mình từ bé. CLB văn hóa truyền thống xã Tân Hưng thành lập từ năm 2021 với 13 người, hiện đã lên tới 34 người do có thêm bà con từ các ấp khác sau sáp nhập. Thay vì truyền dạy tại các gia đình đơn lẻ, những cô bé, cậu bé S’tiêng học từ bạn bè, từ những nghệ nhân trong các CLB. Các bé gái từ 7 tuổi bắt đầu học các điệu múa cơ bản và lời hát tiếng mẹ đẻ, các bé trai từ 10 tuổi bắt đầu tập đánh cồng chiêng.
Thị Minh Ca là mẹ của Điểu Duy Thành, đang là thành viên cốt cán, năng nổ của câu lạc bộ: “Mỗi lần có lễ hội tôi lại tham gia hát múa cùng mọi người. Có CLB, chúng tôi được đi biểu diễn ở nhiều nơi”. Chính những chuyến lưu diễn như ở Củ Chi hay Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Hà Nội) đã giúp Minh Ca hiểu rằng nếu muốn nhiều người biết hơn tới văn hóa S’tiêng thì cần phải giữ gìn cái gốc truyền thống của nó, cần phải quảng bá để nhiều người tìm đến.
Điểu Duy Thành yêu thích tiếng cồng chiêng, yêu thích việc cầm dùi trống. Cậu bảo thích đánh trống - cái mặt trống còn to hơn cả người cậu bé 9 tuổi - vì không đau tay như đánh cồng. Dự một buổi trình diễn của đội cồng và múa hát, mới thấy các thiếu niên lộc ngộc nhịp chiêng còn vụng về, múa hát có lúc còn quên nhịp, nhưng đều tràn đầy sức sống và sự hứng khởi. Nó mới chính là chất đời sống thuần hậu như cách mà người S’tiêng bao đời nay trên mảnh đất Bù Đăng. Những đứa trẻ như Thành cứ thế được nuôi tình yêu văn hóa dân tộc mình từ thơ ấu.
Nhà nghiên cứu văn hóa Bùi Trọng Hiền (Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam) nói rằng, 9 tuổi như Thành mà biết thực hành cồng chiêng như thế là rất đáng quý. Đó sẽ là một hy vọng cho thế hệ măng non tiếp nối văn hóa truyền thống.
Con đường bảo tồn hẳn nhiên không phải lúc nào cũng đơn giản như chỉ cần thành lập vài CLB là xong. Năm 2021-2022, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp Bom Bo (hiện thuộc TP Đồng Nai), đơn vị phụ trách Khu bảo tồn văn hóa dân tộc S'tiêng xã Bom Bo mở lớp dạy cồng chiêng tại Bom Bo và Thọ Sơn. Trong khi lớp học ở Thọ Sơn lứa học viên đã tốt nghiệp, lập đội cồng chiêng và có biểu diễn, thì lớp ở Bom Bo không có ai đủ tiêu chuẩn để tốt nghiệp. Ông Phạm Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm bảo rằng sắp tới sẽ chuẩn bị mở một lớp nữa, nhưng bỏ ngỏ về một “lịch sử lặp lại”: “Phải tìm được người học thôi, quyết tâm là thế”.
Để sống được với văn hóa
Thị Đố, xã Bom Bo, bắt đầu học dệt từ mẹ khi mới 10 đến 15 tuổi. Ban đầu cô chỉ làm đồ cho bản thân và gia đình sử dụng, rồi dần dần, cô bắt đầu dệt để bán cho bà con dùng trong các dịp lễ, cưới hỏi. Để dệt xong một tấm vải truyền thống, cô mất khoảng 5 ngày nếu ngồi làm liên tục, hoặc khoảng 2 tuần nếu chỉ làm vào lúc rảnh rỗi. Tháng cao điểm, cô có thể dệt được 5 tấm vải (chiều dài khoảng 70cm), mỗi tấm có giá 1 triệu đồng. Thị Đố chỉ làm khi có đơn đặt hàng, chủ yếu thông qua sự giới thiệu của Điểu Xia. Thậm chí, có những lúc khung cửi bị bỏ trống rất lâu vì không có ai đặt.
Ở xã Tân Hưng, mấy tháng qua, tổ dệt ấp Lồ Ô bán được gần 100 chiếc khăn loại dệt đơn giản, và 5 bộ trang phục truyền thống (ba bộ cho nữ và hai bộ cho nam). Doanh thu của cả tổ mới khoảng 26 triệu đồng, chưa trừ chi phí nguyên liệu. Thi thoảng bà Dôn mang sản phẩm đi giới thiệu ở các hội chợ, thu về khoảng 3-4 triệu đồng.
Cả Điểu Xia, bà Thị Dôn hay những nghệ nhân dệt như Thị Đố, bà Thị Tiếc đều nhận định rằng, những mẫu mã dệt của họ chưa đa dạng. Thị Đố bảo cô chỉ biết dệt các tấm vải nguyên bản. Khách hàng thường mua vải của cô rồi tự đem đi đo, cắt may riêng. CLB của bà Thị Dôn cũng đa phần làm các tấm khăn truyền thống. Theo Điểu Xia, để sản phẩm thủ công tồn tại thì nó phải có giá trị thực tiễn. Khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ là tìm đầu ra, mà là thiếu những người biết thiết kế và cắt may.
Nhìn rộng ra, không chỉ với riêng sản phẩm dệt, cái khó là cần một sự hướng dẫn để những mảnh vải dệt hay những chum rượu cần, những chiếc gùi mây tre trở thành những sản phẩm đa dạng, có tính ứng dụng với thị trường.
Dễ thấy đường đi của các sản phẩm S’tiêng chủ yếu dừng ở mức truyền miệng. Bà Dôn bán hàng qua những người đến thu gom tại làng, hoặc ở một vài hội chợ ngoài tỉnh. Điểu Xia bán hàng qua đơn của các cơ quan đoàn thể, những chương trình biểu diễn lớn cần nguồn trang phục.
Fanpage chính thức của Khu Bảo tồn văn hóa dân tộc S'tiêng xã Bom Bo là Âm vang sóc Bom Bo, lượt follow mới là hơn 120 người. Mặc dù fanpage đã có sự kết hợp với một số đơn vị để đẩy mạnh quảng bá nhưng các bài viết gần như không có tương tác.
Khu Bảo tồn văn hóa dân tộc S'tiêng xã Bom Bo thành lập năm 2011 trên diện tích 113ha. Tháng 6 vừa qua, UBND thành phố Đồng Nai tổ chức lễ công bố Quyết định xếp hạng Di tích quốc gia với di tích lịch sử Sóc Bom Bo và Quyết định đưa Tập quán giã gạo chày tay của người S’tiêng, người Mnông vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Khu bảo tồn có hai nhà dài truyền thống, sân lễ hội, hai cụm tượng nghệ thuật, nhà sinh hoạt cộng đồng. Ngoài ra ở đây còn có bộ đàn đá và bộ cồng chiêng chế tác bằng đồng đỏ và thiếc lớn nhất, hiện đang giữ kỷ lục Việt Nam. Ông Phạm Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Bom Bo, đơn vị quản lý khu bảo tồn, nói con số khách tới khu bảo tồn là khoảng 18.000 đến 20.000 lượt khách một năm. Nếu con số đó chính xác (nghĩa là trung bình hơn 50 lượt khách/ngày) ở một khu du lịch đầy ắp chất liệu văn hóa trên cả một quả đồi rộng lớn, thì suốt 15 năm không tiến triển. Về lý thuyết, khu bảo tồn có đủ sản phẩm du lịch như biểu diễn đàn đá, múa hát, cồng chiêng, trải nghiệm giã gạo chày tay, có đủ hạ tầng để đón đoàn khách lớn. Hệ thống sản phẩm vệ tinh là những hộ du lịch cộng đồng ngay tại Bom Bo. Hiện xã Bom Bo cũng đã thành lập các tổ làng nghề với 50-60 hội viên.
Điểu Thị Xia nói cô vẫn gửi sản phẩm lên gian trưng bày ở khu bảo tồn để bán, nhưng hiệu quả thấp: “Lượng khách khu bảo tồn ít, cũng không bán được mấy, lâu lâu mới có một đơn”. Trước kia Xia là cán bộ phụ nữ, gây dựng phong trào trong làng cũng đơn giản hơn. Từ sau sáp nhập, Xia chuyển vị trí công tác, nên để kêu gọi chị em một cách “danh chính ngôn thuận” thì vẫn còn nhiều vướng mắc hành chính.
Ông Tuấn không phủ nhận thực tế các nghệ nhân chưa thật sự sống được nhờ thực hành di sản: “Đội biểu diễn cũng không chuyên biểu diễn được, họ vẫn phải làm việc khác để bảo đảm cuộc sống. Đó là trăn trở mà chúng tôi chưa làm được”. Đại hội Đảng bộ xã Bom Bo nhiệm kỳ 2025-2030 cũng xếp việc phát triển du lịch sóc Bom Bo vào một trong ba chương trình hành động của xã. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, ông Tuấn thừa nhận: “Có hai hạn chế. Một là nghệ nhân lớn tuổi chưa có phương pháp truyền lại cho thế hệ trẻ, còn người trẻ cũng không mặn mà. Đó là hạn chế thuộc về chủ thể di sản. Hai là chúng tôi chưa mở được nhiều lớp truyền dạy, chưa thổi được niềm đam mê cho lớp trẻ”.
Tháng 5/2026, CLB văn hóa truyền thống S’tiêng xã Tân Hưng thành lập, một nhà sàn truyền thống được dựng lên ở ấp Lồ Ô để làm điểm tập trung của bà con S’tiêng. Đó cũng là nơi trưng bày, giới thiệu các sản phẩm bà con người S’tiêng làm ra. Ở Bom Bo hay Tân Hưng, nhiều khu trưng bày đã được xây dựng ngay tại nhà bà con. Như nhà trưng bày của bà Thị Chanh ở ấp 5 xã Tân Hưng, nhà nấu rượu của nhà Điểu Xia ở xã Bom Bo, nhà sàn của ông Điểu Ho ở ấp Xa Cô, xã Tân Hưng…
Người S’tiêng tin rằng mọi thứ đều có linh hồn. Giữ gìn văn hóa truyền thống chính là giữ những linh hồn đó, giữ cái gốc của chất S’tiêng trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Những đứa con của thần vẫn đang giữ những ngọn lửa tình yêu với văn hóa trong cộng đồng. Nhưng họ cũng cần thêm sự tiếp lửa từ nhiều phía, nhất là sự chủ động từ quản lý địa phương, để giữ mạch đam mê qua các thế hệ, lan tỏa hơn văn hóa của một tộc người năm xưa từng rực sáng như ánh đuốc lồ ô giữa rừng già.
S’tiêng là tộc người thiểu số cư trú lâu đời tại vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, với địa bàn tập trung đậm đặc nhất tại tỉnh Đồng Nai. Ngôn ngữ của họ thuộc nhóm Môn - Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á, có mối quan hệ nguồn gốc và giao thoa gần gũi với tiếng Mạ, Mnông và Chơ Ro.
Nhóm S’tiêng Bù Lơ định cư ở các vùng rừng núi cao, sâu, duy trì phương thức làm rẫy. Nhóm S’tiêng Bù Đek (Bù Đêh) cư trú ở vùng thấp thung lũng, ven sông suối, đã tiếp cận và thực hành canh tác lúa nước từ sớm. Ngoài ra còn có các nhóm địa phương khác như Bù Biêk, Bù Dip và Bulac.