Hãy về đồng đội ơi! (kỳ 4)

Kỳ 4: Cả nước gọi các anh về

Ông Năm Nhiên trao đổi với Thượng tá Vũ Văn Thọ, Đội trưởng Đội K72.
Ông Năm Nhiên trao đổi với Thượng tá Vũ Văn Thọ, Đội trưởng Đội K72.

(Tiếp theo và hết)

Khi Đội K72 tăng tốc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ (HCLS) tại lô cao su 97 xã Minh Đức (TP Đồng Nai), ông Trần Ngọc Nhiên (Năm Nhiên) ngày nào cũng ra hiện trường. Ông ngó từng mảnh đạn, cầm từng di vật. Nhiều năm nay, ký ức về những ngày nhìn đồng đội lần lượt nằm xuống trên mảnh đất này vẫn còn rõ mồn một. Có những đồng đội chính tay ông chôn cất, có những đồng đội ông từng nhìn thấy, chưa bao giờ ông thôi mong muốn được đưa họ trở về.

“Nỗi day dứt nhất của tôi”

Năm 1969, ông Năm Nhiên lái máy ủi cho công ty cao su ở Minh Đức. Sáng lái máy, chiều ông lại thay đôi dép khía rãnh như dép cao su bộ đội để đi rải truyền đơn.

Trong chiến tranh, như đã nói trong các kỳ trước, địa bàn xã Minh Đức (đặc biệt là sườn tây bắc điểm cao 74 và khu vực ấp Đồng Dầu) là vùng đệm chiến lược quan trọng do Quân Giải phóng kiểm soát. Nơi đây đặt các căn cứ ẩn nấp và là bàn đạp tổ chức các trận phục kích đánh phá đoàn xe cơ giới, xe tăng, xe thiết giáp của đối phương di chuyển qua Quốc lộ 13.

Địch đã mở nhiều trận càn nhằm lùng sục, triệt phá hệ thống hầm hào căn cứ, đánh bật lực lượng chủ lực cùng du kích địa phương khỏi địa bàn, đồng thời tìm cách phong tỏa tuyến hành lang tiếp tế biên giới. Trong đó, lớn nhất là trận tìm kiếm và phong tỏa Minh Đức của liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa tháng 11/1969. Do tương quan hỏa lực chênh lệch và tính chất ác liệt của trận càn, nhiều cán bộ, chiến sĩ Quân Giải phóng cùng du kích địa phương đã anh dũng hy sinh.

Hơn nửa thế kỷ, ông Năm Nhiên vẫn nhớ lúc đó, địch kéo thi thể bộ đội giải phóng ra rìa đường để thị uy. 4 ngày sau chúng mới cho người dân vào thu dọn. Ông Nhiên cùng một người trong nhóm rải truyền đơn là ông Tám Hên, “kéo cái máy ủi lẹt kẹt lẹt kẹt” đào hào lấp đất chôn các liệt sĩ. Ông Nhiên nói: “Lúc đó mới có mười mấy tuổi, mà tôi không biết sợ”.

Năm 1971, ông gia nhập hàng ngũ Quân Giải phóng, trở thành lính trinh sát. Những cuộc chiến kéo ông đi liên miên, nỗi day dứt về những nấm mộ đồng đội ngày đó vẫn thường trực. “Nằm ở đó thời gian dài, người ta ủi đất trồng cây, rồi heo rừng vào phá nữa”, ông ngậm ngùi.

Hòa bình, ông trở thành một nhân chứng hỗ trợ đắc lực cho đội tìm kiếm. Tới giờ, ông vẫn có thể nói vanh vách những đơn vị từng đóng quân ở Minh Đức cũng như vị trí của họ. Có điều bãi bể nương dâu, dù chiến đấu ngay tại Minh Đức bao năm, chính ông cũng có lúc không nhận ra sự đổi thay của những con đường, những cánh rừng.

Lần tìm kiếm này, những thông tin của ông là một chỉ dẫn quan trọng để Đội K72 mở rộng hướng tìm kiếm. Trong trí nhớ của ông, đã từng có một nghĩa trang dã chiến nơi các liệt sĩ nằm cạnh một con đường có xe tăng chạy được. Lúc đó, người ta phá đi một hàng cây, các liệt sĩ được đặt quay đầu về hướng hàng cây cao su. Ngày 15/7, theo hướng chỉ của ông Năm Nhiên, máy xúc đã phát hiện mảnh tăng lớn nhất. Chỉ trong chiều hôm đó, sáu HCLS lộ diện. Kết quả trong đợt đào tìm trước 24/7 đã ghi nhận tại khu vực mới có 12 HCLS.

Những ngày tháng 7, Minh Đức nóng như thiêu đốt. Ông Nhiên vẫn đi tới từng vị trí nghi mộ. Mấy chục năm ở bìa rừng cao su, ông gặp không biết bao nhiêu đoàn người từ nam chí bắc đến đây tìm người thân. Họ chỉ biết thắp hương khấn vái, đợi chờ tưởng như vô vọng. “Đó luôn là nỗi day dứt nhất cuộc đời tôi”, ông Nhiên kể.

Thế nên cuộc tìm kiếm lần này, ông Nhiên cảm thấy nhẹ nhõm hơn ai hết. “Tôi may mắn còn sống tới ngày anh em được tìm thấy. Mừng lắm!”, ông rưng rưng. Thi thoảng nhớ ra chi tiết nào, ông lại tất tả chạy ra kể lại cho Thượng tá Vũ Văn Thọ, Đội trưởng Đội K72.

172.jpg
Nguyễn Ngọc Thành hỗ trợ rà tìm di vật trên lô cao su 97.

90% cuộc tìm kiếm đến từ những nhân chứng

Thượng tá Thọ nói 90% các cuộc tìm kiếm của Đội K72 đến từ thông tin các nhân chứng. Ở những địa điểm từng là chiến trường ác liệt giống như Minh Đức, đi đâu anh Thọ cũng mang theo một cây bút xóa. Mỗi khi gặp các xe ủi, xe tải của các công trường, nông trường, anh sẽ dùng bút đó viết số điện thoại mình lên đuôi xe. Làm vậy để nếu những người ở đó phát hiện thấy dấu vết gì có thể gọi Đội K72, và K72 sẽ có mặt.

Cuộc khai quật ở Minh Đức, được mở đầu cũng từ một tin báo từ người dân. Nguyễn Ngọc Thành là một người nhặt phế liệu ở khu vực rừng cao su này đã nhiều năm, như Thành nhận là 30 năm, từ khi còn là một cậu nhóc bé tẹo. Chiếc máy dò của Thành đã tìm thấy vô số các vật dụng thời chiến. Từ vài chục năm trước, Thành không nhớ rõ năm nào, anh cũng đã từng tìm thấy mấy khẩu súng, vỏ đạn, lọ mực. Có lần Thành thấy cả xương người, hớt hải lấp lại rồi lên báo chính quyền.

Chuyện ngày xưa thì khó nắm rõ. Nhưng lần này, chính Thành đã phát hiện khẩu súng AK hoen gỉ đầu tiên, để Đội K72 làm dấu và tìm kiếm ra hầm mộ có 4 HCLS. Khẩu súng AK thứ hai, nơi tìm ra 3 HCLS cũng do người dân đi trồng cao su báo cho Đội K72.

173.jpg
Một lá cờ Nguyễn Ngọc Thành cắm báo hiệu cho đội tìm kiếm.

Những ngày sau đó, khi chiến dịch được mở rộng, cả Thành và ông Nhiên đều thường xuyên có mặt trên bãi đất. Thành rà kim loại, nếu thấy khả nghi, Thành sẽ cắm một lá cờ ở đó. Ngồi điều khiển máy xúc, thấy một lá cờ mới, Thiếu tá Phạm Văn Hường lại quay ra hỏi anh chàng gày nhỏ đang lầm lũi phía xa xa: “Thành ơi, chỗ đó tìm thấy gì đấy”, “Có cái tăng anh ơi”...

Cứ thế, bãi đất lô cao su 97 phủ đầy những lá cờ đỏ, những điểm mốc để đội tìm kiếm đào sâu xuống. Đó là một sự phối hợp nhịp nhàng giữa quân và dân.

Thượng tá Vũ Văn Thọ kể ngoài ông Năm Nhiên còn có ông Nguyễn Văn Tánh (Sáu Tánh) cũng là một nhân chứng nhiệt tình với những cuộc tìm kiếm. Ông Sáu Tánh từng là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11, sau đó là Tham mưu trưởng Trung đoàn 201, trực tiếp tham gia chỉ huy, xây dựng phương án tác chiến và bố trí lực lượng của Trung đoàn 201 tại vùng đệm Hớn Quản - Minh Đức giai đoạn 1972-1975. Năm 2022, ông là nhân chứng quan trọng đưa Đội K72 tìm kiếm thành công 29 HCLS tại ấp 2.

Đại tá Nguyễn Thanh Phong, Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự TP Đồng Nai nói rằng, điều mừng của chiến dịch lần này là các cấp chính quyền, cấp ủy địa phương và cả xã hội vô cùng ủng hộ. Khi đợt tìm kiếm lên cao điểm, Công ty cao su Bình Long, đơn vị đang quản lý lô cao su có nhiều HCLS đã cho Đội K72 mượn thêm 2 máy xúc. Lúc mới phát hiện các hiện vật, cây cao su non và lúa rẫy mới trồng được hơn 10 ngày, nhưng ông Trương Văn Phúc, Đội phó Đội Bình Minh, đơn vị đang phụ trách lô cao su 97 nói rằng phục vụ tìm kiếm trước, còn trồng cao su để sau cũng được: “Bây giờ, tìm thấy các liệt sĩ là nhiệm vụ cần được ưu tiên. Không sao đâu”. Ông Phúc cũng kể thêm lô 97 lần này mới phát hiện di vật, còn lô 288 ở ấp 2 đã đào mấy lần và cũng phát hiện HCLS rồi.

Nhiều người dân ở quanh đó, khi nghe tin về các đợt tìm kiếm, cũng tìm đến tiếp tế cho Đội K72 đang làm việc. Có người trong số họ có người thân cũng là liệt sĩ đang chưa tìm được, có người là cựu chiến binh, cũng có cả những bạn trẻ nghe tin tìm đến thắp hương… Lại có cả người dân tìm đến cung cấp thêm thông tin. Anh Nguyễn Văn Minh, nhà ở cách đó vài cây số, tìm Đội K72 nói cách đây vài năm sửa nhà, anh cũng đã đào thấy một số vật dụng bộ đội: “Hồi đó không biết, giờ nghe đọc tin, thấy biết đâu có thể có gì nên đến nói với các anh”.

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính HCLS cũng là một cuộc chiến. Cuộc chiến không súng đạn, không có kẻ thù, chỉ có quyết tâm để có thêm những lần trở về, để các liệt sĩ được gọi tên một lần nữa. Vì vậy, không một ai ở trên dải đất Việt Nam này đứng ngoài các cuộc tìm kiếm. Bởi mỗi một người Việt Nam đều hiểu mảnh đất hòa bình một dải bắc nam mà chúng ta đang đứng, đã đánh đổi bằng máu xương và những cuộc đời bất tử như thế nào. Đưa các liệt sĩ trở về, đó là một mệnh lệnh từ trái tim của mỗi người con đất Việt.

“Đất nước tôi, thon thả giọt đàn bầu

Nghe dịu nỗi đau của mẹ

Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ

Các anh không về, mình mẹ lặng im...”.

(Đất nước, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn phổ thơ Tạ Hữu Yên)

Hơn nửa thế kỷ, các anh đang về rồi, thưa mẹ!

Hãy về đồng đội ơi! (kỳ 3)

Hãy về đồng đội ơi! (kỳ 2)

Hãy về đồng đội ơi! (kỳ 1)

Có thể bạn quan tâm

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.

Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.

Phút giây sinh tử của người chiến sĩ an ninh hàng không

Không lâu sau khi máy bay cất cánh từ đường băng sân bay Đà Nẵng, bọn không tặc ra tay hành động. Hai tên phía trước đứng dậy rút lựu đạn, hai tên phía sau hét lớn, khống chế hành khách. Trong khoang chiếc máy bay 45 chỗ ngồi chật chội, không khí hoảng loạn, tiếng la hét, tiếng kêu khóc lẫn trong tiếng quát tháo đe dọa...

Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.

Đánh thức hương chè cổ giữa ngàn mây Tả Củ Tỷ

Trong bảng lảng sương mây bao phủ khắp đỉnh Tả Củ Tỷ (Lào Cai), nơi những dãy núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành ngăn cách nơi này với thế giới bên ngoài, có một loài cây đã bám rễ sâu vào lòng đất từ hàng trăm năm trước. Đó là chè Tuyết Shan cổ thụ - báu vật của đại ngàn.

Đại tá phi công Hoàng Biểu.

Ánh sao đêm trên cung lửa

Có những chuyến bay đêm trên vùng trời Khu 4, từ độ cao vài nghìn mét, Đại tá, phi công Hoàng Biểu nhìn xuống mặt đất chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Không làng mạc, không ánh đèn. Chỉ có mùi của chiến tranh ngột ngạt và đáng sợ.