Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN
Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Trên núi Tà Han

Thời tiết những ngày đầu tháng 8 thất thường đến lạ. Sáng vừa trận mưa rào, trưa đã nắng gắt cháy da, rồi chiều tối lại đổ mưa tầm tã. Con đường từ Bản Ó vào Tà Han đang được Nhà nước đầu tư mở rộng, sau mỗi trận mưa lại nhão ra, cuộn mình trong những vệt bùn lầy trơn trượt.

Thế nhưng, cái gian truân của bùn đất hôm nay chẳng còn làm đồng bào nơi đây nản lòng như trước. Trong ký ức của cụ Giàng A Sử, người đã đi qua hơn 90 mùa nương rẫy ở đỉnh núi này, Tà Han từng có những năm tháng chìm trong một màu mờ xám đến quặn lòng. Hơn mười năm về trước, Tà Han gần như biệt lập với thế giới bên ngoài. Quanh năm sương mù quánh đặc bao phủ lấy những mái nhà tuềnh toàng, cái nghèo bám chặt lấy lối mòn dốc đứng. Không điện thắp sáng, không sóng điện thoại, không tivi, những cơn lũ về cắt đứt mọi mối liên hệ, đẩy bản làng vào bóng tối của sự lạc hậu.

Có năm, thời tiết khắc nghiệt, sương muối phủ trắng, những vạt nương ngô không ra được bắp, lúa không trổ được đòng, nhiều hộ rơi vào cảnh đói đứt bữa nhiều tháng. Đã vậy, quen với nếp nghĩ đông con thì đông của, nhiều đôi vợ chồng xây dựng gia đình ở độ tuổi tảo hôn, sinh đẻ không có kế hoạch, có hộ sinh tới 7-8 người con, thậm chí tới cả 10 người. Đất chẳng nở ra, quanh năm chỉ biết tra ngô, hạt lúa nương theo lối truyền thống, gói gọn trong bốn chữ "tự cấp tự túc".

Tuyến đường vào Tà Han phải vượt hai đoạn suối, mùa mưa, dòng nước chảy từ khe rất hung dữ. Mỗi trận mưa lũ việc đi lại của người dân, đặc biệt là các cháu học sinh bị ách tắc tới hai, ba ngày, có khi cả tuần Tà Han trong tình trạng cô lập. Hôm thì học sinh đến trường trời mới đổ mưa, nước lũ dâng, chính quyền xã phải cử cán bộ cùng lãnh đạo thôn túc trực ở hai đoạn suối ngăn không cho các em liều lĩnh vượt dòng nước xiết để về nhà. Có trường hợp người nhà bệnh nặng, giao thông cách trở không ra được trạm y tế kịp thời, dẫn đến hậu quả đáng tiếc.

Tháng 9/2024, siêu bão Yagi càn quét qua đã khiến hơn 20 hộ dân Tà Han mất đi tài sản tích góp cả đời, phải ngậm ngùi sống trong những chiếc lán tạm. Những người như chị Hoàng Thị Sía, Ngô Thị Thía… vẫn chẳng thể nào quên những đêm mưa dồn dập đổ lên lán tạm. Ngọn núi sau nhà tưởng như có thể sạt xuống bất cứ lúc nào.

Giữa lúc tương lai mịt mờ tưởng chừng bế tắc, tình đoàn kết và sự hỗ trợ kịp thời của Đảng, Nhà nước cùng lực lượng quân đội đã trở thành tựa đỡ vững chắc. Từ những bữa cơm, tấm áo, chiếc chăn ấm ban đầu cho đến những ngôi nhà mới kiên cố được dựng lên trao cho từng hộ, cùng với đó, chính quyền địa phương tích cực đồng hành, hướng dẫn bà con khôi phục sản xuất, phát triển chăn nuôi, trồng rừng và gìn giữ bản sắc văn hóa nơi tái định cư mới, Tà Han đã, đang từng bước hồi sinh.

“Sau cơn bão càn quét, nếu không có ngôi nhà tái định cư, gia đình tôi sẽ không thể vực dậy được, tôi không dám nghĩ gia đình lại có được ngôi nhà vững chãi như thế này để ở. Nhà cũ trước đây mưa gió hoặc vào mùa đông, trên đỉnh núi cao lạnh như cắt da cắt thịt, thương bọn trẻ, thương người già lắm”- chị Vừ Thị Vàng chia sẻ.

51.jpg
Ngày càng nhiều nhà xây kiên cố, khang trang xuất hiện ở Tà Han. Ảnh: TÙNG VÂN

Những đổi thay

Trăn trở trước cái nghèo của bà con, đảng ủy, chính quyền xã đã dốc sức tìm "chìa khóa" mở cánh cửa cho Tà Han. Điện về bản, xóa đi những đêm đen. Tuyến đường mòn núi đá ngày nào giờ cũng đang được mở rộng, rải bê-tông, không chỉ kết nối với các xã trong tỉnh mà còn thông sang Đà Vị, tỉnh Tuyên Quang, mở ra cơ hội giao thương.

“Nhằm mở lối thoát nghèo bền vững cho đồng bào thôn Tà Han, chính quyền xã xác định nhiệm vụ quan trọng nhất là phải thay đổi được nếp nghĩ, cách làm của người dân. Để tạo bệ phóng cho bà con tự lực vươn, xóa bỏ tâm lý trông chờ, ỷ lại, xã đã cử cán bộ chuyên môn "cùng ăn, cùng làm" với đồng bào. Sự kiên trì gõ cửa từng nhà, lên tận nương rẫy đã dần thay đổi tập quán canh tác truyền thống của đồng bào, những giống cây, con có giá trị kinh tế cao dần bén rễ trên vùng đất này”, Bí thư Đảng ủy xã Đặng Đình Phong chia sẻ.

Cuộc sống ở Tà Han trở nên vững vàng hơn khi đội ngũ cán bộ lãnh đạo thôn được trẻ hóa. Đây là một trong những bước ngoặt góp phần làm thay đổi Tà Han. Giàng Á Trừ, Bí thư Chi bộ mới sinh năm 1993 và Trưởng thôn Vừ A Ngài, sinh năm 1998 là hai “thủ lĩnh” đều còn rất trẻ, tinh thần nhiệt huyết và có tư duy đổi mới. Chi bộ thôn có 7 đồng chí đảng viên, chủ yếu là trong độ tuổi lao động, đội ngũ đủ mạnh để vực các hoạt động của thôn ngày càng đổi mới. Đội ngũ lãnh đạo nhiệt huyết, gần gũi, thường xuyên đến từng nhà động viên bà con đoàn kết, giúp nhau đổi mới, phát triển, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa. Từ đó, tình trạng con em bỏ học giữa chừng, đẻ nhiều, tảo hôn... giảm nhiều so với trước.

Bí thư Chi bộ Giàng Á Trừ chính là người khơi dậy phong trào đi xuất khẩu lao động. Năm 2016, Giàng Á Trừ đã được bà con ở bản tín nhiệm vai trò Bí thư Chi bộ. Năm 2018, có đơn vị đến địa phương tuyển dụng lao động đi làm việc ở Nhật Bản, Giàng Á Trừ mạnh dạn quyết định xin tạm thôi giữ chức vụ Bí thư Chi bộ để “đi trước mở đường” đi xuất khẩu lao động tám tháng theo hợp đồng. “Trừ các khoản chi phí, còn mang về cho gia đình gần 200 triệu đồng. Hơn hết, sau khi đi lao động ở nước ngoài trở về, mình tiếp thu được những tư duy mới, góp phần xây dựng bản làng”, Giàng Á Trừ vui vẻ cho biết.

Hiện nay Tà Han có gần 40 thanh niên đang làm việc tại Hàn Quốc và Nhật Bản, mang lại nguồn thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm cho mỗi gia đình. Điển hình như anh Ngô Văn Chung, từ một hộ nghèo “kinh niên”, sau khi trở về từ Nhật Bản đã dựng được ngôi nhà gỗ nghiến khang trang thuộc hàng đẹp nhất nhì trong thôn. Gần 20 trong tổng số 108 hộ dân Tà Han đã xây dựng được nhà cửa kiên cố sau khi đi xuất khẩu lao động.

Có được nhà ở kiên cố, đồng bào H’Mông Tà Han có động lực phát triển kinh tế, một số hộ điển hình như: Hộ ông Giàng A Tu, Giàng A Dế, Giàng A Thề... đầu tư nuôi trâu, bò, lợn; hộ Đào Văn Của mở quán bán hàng tạp hóa phục vụ bà con trong xóm, thu nhập ổn định.

Những ngày mùa vụ này, vào khu tái định cư, cảm nhận rõ nhịp sống rộn ràng. Trên các sườn đồi, người dân đang khẩn trương thu hoạch ngô nương; dưới sân nhà, nhiều người tranh thủ cái nắng trưa phơi những nia thóc vàng ươm. Trong góc khoảng sân nhỏ, một số bạn trẻ quây quần bên chiếc điện thoại thông minh, hào hứng chia sẻ cho nhau cách tìm hiểu kỹ thuật chăm sóc cây trồng và học cách bán nông sản online. Hai bên đường dẫn vào khu tái định cư, những vạt rừng mỡ và keo trồng đang vươn mình phát triển tươi tốt, phủ một màu xanh tràn đầy sức sống. Tiếng mõ trâu lách cách hòa quyện lại tạo nên một khung cảnh thôn quê đang từng ngày đổi mới, yên bình, ấm áp.

Đứng bên con đường đang thi công, ánh mắt cụ Sử lại lấp lánh niềm vui. Cụ bảo: “Tà Han bước sang một trang mới rồi. Điện lưới thắp sáng cả bản, ngõ nhỏ có đèn năng lượng mặt trời, đường lớn, cầu to đang mở”. Tận mắt thấy sự đổi thay và cảm nhận rõ quyết tâm vươn lên của người dân, con đường gần 40 cây số từ đỉnh Tà Han về trung tâm xã Nam Cường như ngắn lại. Tà Han không còn là bản nghèo xơ xác của quá khứ mà đang chuyển mình vươn lên giữa mây ngàn.

Có thể bạn quan tâm

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.