Kỳ 1: Những cột mốc ngân vang giữa biển
Qua các đảo thuộc Đặc khu Trường Sa, tôi nhận ra âm thanh đọng lại lâu nhất trong mình không phải tiếng sóng. Đó là tiếng Quốc ca vang lên dưới lá cờ đỏ sao vàng và tiếng chuông từ những ngôi chùa giữa trùng khơi.
Hát Quốc ca để gần nhau hơn
Chiều 3/7, khi tàu Kiểm ngư KN 491 rời cảng Cam Ranh, đưa hơn 200 thành viên Đoàn công tác số 19 hướng ra Đặc khu Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa, mặt biển chỉ gợn những lớp sóng nhỏ. Không ai nghĩ rằng, trên hành trình trở về, cũng vùng biển ấy sẽ nổi sóng dữ dội do ảnh hưởng của bão và mùa biển động, gió Tây Nam thổi mạnh.
Đất liền khuất dần phía sau. Những câu chuyện trên boong tàu cũng thưa dần khi màn đêm phủ xuống. Chỉ còn tiếng máy đều đều và tiếng vỗ vào mạn tàu như nhịp tim của biển cả. Âm thanh khi khoan thai, lúc dồn dập ấy theo chúng tôi suốt hải trình, từ lúc rời Cam Ranh cho đến khi cập cảng an toàn vào sáng 13/7.
Chiều hôm ấy, nắng còn vương trên những hàng cây tra, bàng vuông. Từ cầu cảng vào trung tâm đảo, cảm giác xa cách hàng trăm hải lý giữa đất liền và Trường Sa dường như được rút ngắn bởi những cái bắt tay, nụ cười và lời chào thân tình của cán bộ, chiến sĩ, Nhân dân trên đảo.
Lễ chào cờ được tổ chức trang nghiêm, hơn 200 đại biểu thành viên trong đoàn cùng cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân cùng hát Quốc ca. Có những bài hát ta đã thuộc từ thuở nhỏ, đã hát trong không biết bao nhiêu sự kiện, nhưng phải đến một chiều ở Trường Sa, tôi mới cảm nhận từng câu hát có thể làm người ta đứng thẳng hơn, xúc động hơn và gần nhau hơn đến thế.
Phía sau cột mốc là biển xanh, phía trước là đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, Nhân dân trên đảo và những người vừa từ đất liền vượt biển ra thăm đảo. Trong khoảnh khắc ấy, mọi khoảng cách về tuổi tác, nghề nghiệp, quê quán đều không còn. Chỉ có niềm xúc động của những người Việt Nam đứng trên một phần lãnh thổ của đất nước và cùng hát về Tổ quốc thân yêu của mình.
Ước nguyện tâm linh từ hàng trăm năm trước
Tiếng chuông chùa ngân lên trong buổi chiều. Âm thanh không quá lớn, nhưng giữa khoảng trời nước mênh mang, dường như nó đi rất xa. Tiếng chuông chạm vào những mái nhà, xuyên qua tán bàng vuông rồi hòa cùng tiếng gió. Tôi chợt nghĩ, nếu cột mốc chủ quyền được dựng bằng vật liệu bền chắc, lá cờ khẳng định sự hiện diện của quốc gia, thì tiếng chuông chùa cũng là một dạng cột mốc. Cột mốc không nhìn thấy bằng mắt, nhưng có thể nhận biết bằng chiều sâu văn hóa, bằng tâm thức của mỗi người Việt.
Suy nghĩ ấy càng trở nên rõ nét khi nhìn lại chiều dài lịch sử. Từ ít nhất thế kỷ XVII, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Nhiều tư liệu, bản đồ và chính sử như “Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư”, “Phủ biên tạp lục”, “Lịch triều hiến chương loại chí”, “Hoàng Việt địa dư chí”, “Đại Nam nhất thống chí”... đã ghi nhận quá trình quản lý, khai thác và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Cùng với những đội hùng binh Hoàng Sa năm xưa, nhiều thế hệ ngư dân miền trung cũng đã coi những hòn đảo giữa biển khơi là điểm tựa mỗi mùa vươn khơi, dựng miếu thờ thần, lập chùa thờ Phật để cầu cho biển yên, sóng lặng.
Tiếp nối mạch nguồn ấy, hơn 20 năm qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường đã tu bổ, khôi phục hàng chục ngôi chùa trên các đảo thuộc đặc khu Trường Sa. Đại đức Thích Nhuận Đạt, Trụ trì chùa Trường Sa, đón chúng tôi trong dáng vẻ điềm đạm. Đại đức chia sẻ, ngôi chùa không chỉ là nơi cán bộ, chiến sĩ, người dân trên đảo và ngư dân qua lại vùng biển Trường Sa tìm đến lễ Phật, thắp hương, gửi gắm ước nguyện bình an. Trong những ngày lễ, Tết, rằm hay mồng Một, không gian chùa trở nên gần gũi như một mái nhà chung.
Gia đình lớn giữa biển khơi
Giữa biển, ước nguyện của con người dường như giản dị hơn. Một chuyến tàu bình an, một mùa biển thuận lợi, người ở đảo khỏe mạnh, người đi xa trở về… Những điều tưởng như rất đỗi đời thường ấy, trong hoàn cảnh đặc biệt của Trường Sa, lại mang sức nặng của niềm tin và sự gắn bó.
Người dân trên đảo không nói những điều quá lớn lao. Họ kể về việc chăm cây, đưa trẻ tới lớp, chuẩn bị bữa cơm, đón những đoàn khách từ đất liền, lên chùa thắp hương trong ngày rằm. Nhưng chính nhịp sống ấy đã làm nên sự hiện diện bền vững nhất. Anh Nguyễn Thế Chính, cư dân trên đảo Trường Sa Lớn chia sẻ, sống giữa đảo xa, bà con luôn nhận được sự quan tâm của cán bộ, chiến sĩ và đất liền. Trường học ngay gần nhà, các cháu được chăm lo việc học, còn ngôi chùa là nơi bà con tìm đến trong dịp lễ, Tết hoặc khi cần một khoảng lặng. Những công trình gần nhau khiến cuộc sống trên đảo ấm cúng, gắn bó như một gia đình lớn.
Từ Trường Sa Lớn, hải trình tiếp theo đưa chúng tôi đến với những đảo khác. Mỗi nơi một dáng vẻ riêng, nhưng đâu đó vẫn gặp lại mái chùa, màu áo lính, những hàng cây và nếp sống bình dị.
Ở đảo Đá Tây A, giữa cái nắng và gió đặc trưng của biển, màu xanh đã lan rộng hơn những gì tôi hình dung. Cây tra, bàng vuông, dừa và nhiều loại cây được quân, dân trên đảo kiên trì vun trồng, chăm sóc. Dưới tán cây ấy là các công trình phục vụ đời sống, sinh hoạt và hỗ trợ ngư dân. Đá Tây A không chỉ là nơi đứng chân của bộ đội, khu vực này còn có vai trò quan trọng trong cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá, giúp tàu thuyền có nơi neo đậu, sửa chữa, tiếp nhận nước ngọt, lương thực, chăm sóc sức khỏe và tránh trú bão khi thời tiết bất lợi. Ở đó, sự gắn kết giữa giữ biển với hỗ trợ sinh kế của ngư dân không nằm trong khái niệm xa xôi, mà hiện hữu qua từng con tàu ghé âu, từng trường hợp được sửa chữa, từng chuyến biển tiếp tục vươn khơi.
Đại tá Nguyễn Hữu Minh, Phó Chính ủy Vùng 4 Hải quân, Trưởng đoàn công tác số 19 cho biết, quá trình phát triển Đặc khu Trường Sa luôn gắn nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền với chăm lo đời sống quân, dân, hỗ trợ ngư dân và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế biển. Các công trình dân sinh, văn hóa, y tế, giáo dục, dịch vụ hậu cần nghề cá từng bước được củng cố đã góp phần làm cho các đảo ngày càng khang trang, đời sống của cán bộ, chiến sĩ, người dân trên đảo ổn định hơn.
Hồn Việt trên mỗi hòn đảo
Nhìn những con tàu neo trong âu, tôi hiểu thêm rằng chủ quyền đôi khi được thể hiện bằng một việc rất cụ thể: Giữa biển khơi, ngư dân biết mình có một nơi để tìm về khi máy tàu trục trặc, khi có người đau ốm hoặc khi bão gió.
Từ âu tàu nhìn vào đảo, mái chùa cong mang kiến trúc đặc trưng. Chùa không đối lập với nhịp sống lao động ngoài biển. Trái lại, tiếng chuông và tiếng máy tàu cùng tồn tại trong một không gian, một bên nâng đỡ đời sống tinh thần, một bên phục vụ những chuyến mưu sinh.
Cùng đi trong Đoàn công tác số 19, Thượng tọa Thích Minh Quang, Phó Chánh văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho biết, việc tôn tạo các ngôi chùa trên các đảo được thực hiện với mong muốn bảo tồn không gian văn hóa Phật giáo Việt Nam, đồng thời đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng chính đáng của quân, dân và ngư dân. Mỗi mái chùa giữa biển không chỉ là công trình tôn giáo mà còn là nơi kết nối con người với quê hương, tổ tiên và những giá trị đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Tôi nghĩ đến những chuyến tàu vượt hàng trăm hải lý, những người thợ làm việc trong điều kiện nắng gió và hơi muối, những cán bộ, chiến sĩ và cư dân hằng ngày chăm sóc, gìn giữ cho từng pho tượng, từng ban thờ, mái ngói. Những ngôi chùa được tôn tạo không phải để tạo nên sự đồ sộ giữa biển, mà điều đáng quý nằm ở sự hài hòa, gần gũi và khả năng lưu giữ hồn cốt Việt Nam trên mỗi đảo.
Tiếng chuông từ Trường Sa Lớn dường như vẫn theo chúng tôi qua mỗi chặng hải trình. Mỗi khi tàu rời đảo, nhìn mái chùa nhỏ dần sau hàng cây, tôi lại có cảm giác vừa rời một ngôi làng trong đất liền. Chỉ khác, trước hiên ngôi làng ấy là biển cả bao la.
(Còn nữa)