Bắc thành khởi nghĩa

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004) nguyên Trưởng ban Nông nghiệp Báo Nhân Dân, tham gia chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Bắc Ninh trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Cách mạng thành công, ông trở thành Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh. Một năm sau, trên báo Cứu quốc (Đặc san Cách mạng Tháng Tám phát hành ngày 19/8/1946), nhà báo Lưu Động đã ôn lại qua bút ký “Bắc thành khởi nghĩa”. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, chúng tôi trích đăng bài bút ký này. Tư liệu do cộng tác viên Kiều Mai Sơn cung cấp.

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004). Ảnh tư liệu của Kiều Mai Sơn
Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004). Ảnh tư liệu của Kiều Mai Sơn

Hôm nay, người ở đâu đổ ra mà lắm thế? Ở Bắc Ninh những ngày hội Lim, những ngày hội Gióng, dân quê đi xem đã đông, nhưng thật không bằng một phần nghìn ngày hôm nay.

Bốn phía, từ những ngõ hẻm, từ những làng mạc xa lắc xa lơ, từ những nơi vắng tanh vắng ngắt, lũ lượt người lớn, người già, người trẻ kéo nhau tới đường cái nhựa. Họ ăn mặc cũng buồn cười đáo để. Có những cô gái mơn mởn, xúng xính trong bộ quần áo mới nhất, lại có những cô khác bận quần chẽn, thắt lưng da ngang lưng, tóc búi ngược, tay lăm lăm một thanh kiếm hình như sẵn sàng để xung trận.

Những bà già tay dắt cháu, ríu ra ríu rít, bàn tán xôn xao, chuyện này sang chuyện khác suốt dọc đường. Rồi những anh trai đồng quê khỏe mạnh, hăng hái, ăn mặc đủ lối: quần áo nâu, quần áo soóc vàng, quần áo xanh, v.v... Họ vác gậy, vác giáo, vác kiếm và có cả súng nữa.

Trong đám người trăm nghìn hình sắc ấy, ngoằn ngoèo trên các ngả đường như bao nhiêu con rắn từ từ bò, bỗng nổi bật lên nền trời xanh trong của một buổi tháng 8, trăm nghìn lá cờ đỏ sao vàng.

Đám biểu tình hăm hở tiến về phía tỉnh lỵ Bắc Ninh. Mặc dầu ai cũng biết rằng trong thành, lính Nhật vẫn chiếm đóng, một số Bảo an binh vẫn còn trong trại. Nhưng người ta không chút e ngại, cứ đi, cứ đi, dù có phải đánh nhau. Người ta hát vang:

Đạp phăng quân Nhật Pháp

Cướp lấy chính quyền.

Thỉnh thoảng đám biểu tình lại phải chùng lại, vì đường cái bị phá hay bị cản bởi những cây chặt đổ xuống đêm hôm trước. Hai bên đường, dân địa phương đem nước, đem cơm, đem bánh ra mời đoàn biểu tình kéo dài dằng dặc mấy cây số.

Tới gần tỉnh… tới gần mãi. Tiếng hô khẩu hiệu vang lừng:

- Việt Nam độc lập muôn năm!

Tiếng hò hét, hét lên để trấn áp những nỗi hồi hộp trong lòng những con người đang hăng. Anh em lính Bảo an đã đứng chờ sẵn. Tiếng chào nhau rầm rĩ. Anh em Bảo an vui vẻ trao khí giới cho dân quân cách mạng.

Rồi hết thảy rầm rộ tiến vào trong tỉnh. Phố xá đỏ rực cờ đỏ sao vàng.

Ừ! Ngày hôm qua hãy còn lén lút, còn sợ Nhật, còn nói tới chữ Việt Minh se sẽ, nho nhỏ, nhưng ngày hôm nay, lớp sóng người ngang nhiên đi giữa bao nhiêu là cờ đỏ sao vàng, hô không biết bao nhiêu là khẩu hiệu đốt cháy lòng người ta.

- Việt Nam độc lập muôn năm!

Ờ! Nhưng trên tường thành chót vót kia, cờ mặt trời vẫn đỏ lóe và ngạo mạn. Sao thế được! Tự nhiên, một cái miệng bật ra một khẩu hiệu:

- Đả đảo phát-xít Nhật!

Mấy vạn tiếng cùng hét theo:

- Đả đảo phát-xít Nhật!

Mấy thanh niên tự vệ tay mó máy vào cò súng, mắt trừng trừng nhìn sắc cờ phát-xít. Trên hàng đầu có tiếng súng nổ.

Kho súng đã có một tàn than đốt cháy. Thế là bao nhiêu đầu súng ngóc lên trời mà nổ chơi với không khí. Nhiều anh không thuộc một tổ chức quân sự nào, nhưng cũng vớ đâu được súng đem đi biểu tình. Khốn nỗi các anh cầm súng mà chẳng biết mở súng ra làm sao, cho đạn vào thế nào, chạy loăng quăng tìm đến những anh tự vệ, ấn khẩu súng vào tận tay:

- Mở hộ tôi! Lắp đạn hộ tôi! Thôi được rồi! Đưa giả đây!

Thế là anh ta giật phắt lấy khẩu súng, nhắm mắt lại, há mồm ra, chĩa súng lên không trung rồi thì bóp cò. Tiếng súng nổ, anh ta cười sung sướng. Những chị phụ nữ cũng cố giằng súng trong tay một anh tự vệ và đòi bắn cho kỳ được.

Người ta mê mẩn vì súng. Súng! Đạn! Tiếng súng nổ ở hàng đầu nhưng ở giữa hàng - cách nhau nửa cây số - tưởng rằng Nhật đã tấn công rồi, bởi vậy súng lại nổ, nổ liên miên. Hàng cuối thấy súng nổ càng tưởng rằng hàng đầu đã phải chiến đấu nên súng lại nổ.

Đoàn người dài dằng dặc ấy vừa đi, vừa hát, vừa hô khẩu hiệu, vừa bắn lên trời. Khi đi qua cửa thành có quân Nhật đóng thì mọi người ồ vào.

52.jpg
Người dân tìm hiểu các tư liệu lịch sử tại Trưng bày chuyên đề “Bắc Ninh trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945” được tổ chức năm 2025.

Mấy tên Nhật gác cửa ra hiệu tay cho mọi người đừng xông vào, nhưng cản làm sao được, hàng vạn người cứ băng băng vượt qua hào sâu, trèo lên tường thành, hăng nhất lại là các chị phụ nữ. Có tiếng súng của quân Nhật bắn. Một người bị thương ngã xuống. Nhưng lúc đó cái chết và súng đạn cũng chẳng có nghĩa gì. Người cứ nhảy vào thành, người cứ công kênh nhau vượt qua tường thành trước trận mưa đạn liên thanh của tụi Nhật.

Sau cùng, đám người biểu tình vào được thành. Một chị phụ nữ tức tốc trèo lên cột cờ chót vót, hạ lá cờ Nhật xuống. Nhưng tay chị vừa cầm tới cán cờ thì một phát đạn trúng tay, chị lộn nhào xuống. Một chị khác trèo theo ngay lên và lần này chiếc cờ Nhật bị quăng xuống đất, lá cờ đỏ sao vàng oai nghiêm bay lên phấp phới.

- Việt Nam độc lập muôn năm!

- Việt Minh muôn năm!

Hàng vạn cái miệng đứng trước lá cờ oai linh cùng hét lên một lượt.

Trước cái tinh thần dũng mãnh của dân chúng, Nhật Bản đành chịu để dân quân chiếm tỉnh và cam đoan không hành động gì hết.

Đám biểu tình lại lên đường, lên đường rầm rộ. Họ vào trại Bảo an binh. Đây, kho súng, đây, kho đạn... Tim mọi người nhảy lên. Họ chạy xô vào kho súng.

- Cho tôi một khẩu.

- Tôi khẩu Indochinois này!

Một người nằm nhoài ra, vớ được một khẩu súng liền thí nghiệm ngay ở sân. Anh lắp đạn, và bóp cò khiến mọi người giật mình choáng choàng.

Người ta chen nhau, đấm đá nhau để cướp lấy một khẩu súng. Anh chỉ huy lắc đầu, không biết làm thế nào mà giữ nổi trật tự.

Sau cùng, nghĩ được một kế, anh chạy vào kho tìm được một thanh phạng. Anh chạy đến đám đông người đang hì hục giằng co nhau súng. Anh hét lên:

- Bỏ cả xuống. Đứng ra một bên.

Không ai nghe anh. Tức thì thanh phạng đập xuống lia lịa. Sau một hồi mưa như thế, đám người kia mới chịu bỏ những hòm súng đạn đứng giãn sang hai bên. Anh chỉ huy nói:

- Phải có kỷ luật và trật tự. Súng này thuộc về anh em chứ về ai. Nhưng phải đợi có sự phân phát đâu ra đấy chứ!

Rồi anh gọi từng bộ đội vào để phát súng. Lúc này người ta mới yên lặng đến nhận súng. Nhiều anh đầu hãy còn sưng như một quả ổi.

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004) tên khai sinh là Nguyễn Xuân Canh, bí danh Nguyễn Trịnh Liệt, quê làng Hậu Trung, xã Bạch Đằng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên).

Ông tham gia cách mạng năm 1932, vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Tháng 10/1944 là Tỉnh ủy viên Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Ninh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh (1945 - 1946).

Năm 1946, Đảng điều động ông Nguyễn Trịnh Liệt sang làm báo, kể từ đó báo chí trở thành sự nghiệp cả đời của ông. Cuối năm 1957, ông nhận nhiệm vụ Chủ bút báo “Hà Nội hàng ngày” (nay là Hànộimới). Từ năm 1960 ông về Báo Nhân Dân công tác, làm Trưởng ban Nông nghiệp.

**

Một năm đã qua! Cuộc khởi nghĩa vừa vặn một năm. Trong đám đại chúng thân yêu ấy đã thấy vắng mặt nhiều chiến sĩ và cũng trong đám đại chúng lúc đầu ngây thơ, vô chính phủ nhưng hăng hái dữ dội với cách mạng đó, ngày nay thấy xuất hiện nhiều tài ba đặc biệt. Mới ngày nào Bắc thành uể oải lười biếng trong cảnh bình thản của đời nô lệ, ngày nay đã vùng dậy, vùng dậy với tất cả sức sống. Tiếng súng khởi nghĩa đã đánh thức nó dậy.

Có thể bạn quan tâm

Cụ bà Nguyễn Thị Cúc.

Hồn tre trăm tuổi

​Tôi tìm đến căn nhà nhỏ nằm ẩn mình dưới bóng cây râm mát ở TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh) vào một buổi trưa nắng gắt phương nam. Trong căn nhà nhỏ xinh, bên chiếc bàn gỗ mộc, một cụ bà tóc bạc trắng, ngồi xe lăn, lưng đã còng nhưng ánh mắt vẫn tinh anh, đang cặm cụi dùng thước kẻ từng đường viền xanh lá trên trang giấy học trò. ​Đó là cụ Nguyễn Thị Cúc, phu nhân nhà ngoại giao Nguyễn Đức Quỳ (Đào Bình Luống), người vừa bước qua tuổi 100.

Bản Hà Lẹc nhìn từ trên cao.

Đổi thay khi nhà sàn đón... người lạ

Một buổi chiều đầu thu, mây từ đỉnh Trường Sơn đổ xuống bản Rum Ho (Kim Ngân, Quảng Trị), phủ mờ những mái nhà sàn nép mình bên triền núi. Tiếng suối len qua từng phiến đá, tiếng gió xào xạc trong tán cây và mùi khói bếp quyện vào hương rừng. Trong căn nhà sàn của mình, chị Hồ Thị Son lặng lẽ trải từng tấm đệm mới.

Tiết mục “Thiên thần đến từ Thiên hà” giành Vương miện Bạc tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026 diễn ra từ ngày 28/5 đến 31/5/2026 tại thành phố Saratov, Liên bang Nga.

Những thiên thần của thánh đường xiếc

Chỉ còn chưa đầy 5 tiếng nữa, tiết mục "Đu Ô" sẽ chính thức công diễn lần đầu tiên. Trong phòng tập của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, tiếng nhạc vẫn đều đều vang lên, xen lẫn những nhịp hô ngắn của huấn luyện viên và âm thanh của đạo cụ va chạm sau mỗi lần tiếp đất. Trên tấm thảm tập đã sờn màu, nữ nghệ sĩ Trần Thanh Hòa và NSƯT Thu Hương (Liên đoàn Xiếc Việt Nam) lặp đi lặp lại từng động tác. Một cú xoay chưa đủ đẹp lại làm lại từ đầu. Một nhịp bắt tay chưa thật khớp cũng phải thực hiện thêm nhiều lần.

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.