Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (Kỳ 2)

Kỳ 2: Hy vọng giữa các khe đá

Giữa thời tiết nắng nóng, các thành viên tổ tìm kiếm miệt mài phá đá tìm đường vào hang đá sập trên cao điểm 685.
Giữa thời tiết nắng nóng, các thành viên tổ tìm kiếm miệt mài phá đá tìm đường vào hang đá sập trên cao điểm 685.

“Các anh nằm dọc chiến hào

Từng cây số máu trên cao nguyên này”

(Nguyễn Việt Chiến)

Sau khi những người lính công binh rà phá vật liệu nổ, mở được lối đi an toàn, đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ bắt đầu tiến sâu vào những sườn núi đá hiểm trở ở Vị Xuyên (Tuyên Quang). Giữa một chiến trường rộng lớn đã đổi thay sau hơn 40 năm, mỗi dấu vết nhỏ trong khe đá, lèn đất hoặc bên những đoạn hào sập, đều có thể mở ra hy vọng tìm thấy một người lính còn nằm lại.

Sau mỗi chỉ dấu

Khu vực tìm kiếm ở điểm cao 685, 772 có địa hình hiểm trở khiến máy móc cơ giới gần như không thể tiếp cận. Núi dốc đứng, lực lượng tìm kiếm phải leo dây, leo thang hoặc mở đường qua khu vực còn tiềm ẩn vật liệu nổ, mới tiếp cận được điểm cao.

Theo Đại úy Lý Văn Quyền, thành viên đội Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tuyên Quang, các vị trí phát hiện hài cốt thời gian qua phân bố rải rác, chủ yếu tại khu vực cao điểm 685 và A6B (phía Trung Quốc gọi là cao điểm 211). Hai điểm cao nằm trên cùng một dải núi, kéo dài từ đỉnh xuống chân núi, nơi từng diễn ra những trận đánh đặc biệt ác liệt. Cùng với các cao điểm 468 và 772, khu vực này được những người lính năm xưa gọi là “lò vôi thế kỷ”, “cối xay thịt”. Pháo đạn trút xuống với mật độ dày đặc, đánh vỡ núi đá, san phẳng cây rừng và làm thay đổi hoàn toàn địa hình. Nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong những đợt pháo kích hoặc khi chiến đấu giữa các mỏm đá nhưng đồng đội không thể đưa ra ngoài.

So địa hình trước đây, nay cây rừng đã mọc trở lại, những sườn núi trắng xóa năm nào được cây xanh phủ kín. Tuy nhiên, phía dưới các lớp đất đá, trong hang sâu và những khe núi dựng đứng vẫn còn nhiều HCLS chưa được tìm thấy. Các cựu chiến binh kể lại, có trường hợp các liệt sĩ hy sinh gần nhau. Có người bị thương rồi ngã xuống vực, hoặc chịu sức ép của pháo nổ, bị hất vào những khe sâu, hẹp và dựng đứng như miệng giếng. Một số hài cốt nằm cheo leo trên vách đá, ở những vị trí rất khó quan sát và tiếp cận.

Giữa địa hình mênh mông ấy, lực lượng quy tập không có nhiều dấu hiệu rõ ràng để lần theo. Cách tìm kiếm phổ biến là dàn hàng ngang, chia từng khu vực, lần lượt khảo sát từ chân đồi lên đỉnh. Mỗi người phụ trách một khoảng, quan sát kỹ từng hốc cây, khe đá và biểu hiện bất thường trên mặt đất. Từng lớp đất được bóc dần bằng dụng cụ thủ công. Khi chạm phải vật thể nghi vấn, lực lượng tìm kiếm mới mở rộng phạm vi chung quanh. Nếu làm trên nền đất, các chiến sĩ đào những rãnh giao nhau theo dạng ô bàn cờ nhằm tránh bỏ sót dấu vết. Nhưng tại Vị Xuyên, phần lớn khu vực tìm kiếm là núi đá, phương pháp này không phải lúc nào cũng có thể áp dụng.

Thượng tá Bùi Phú Vinh, Chính trị viên Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tỉnh Tuyên Quang cho biết, đối với những địa hình như đá núi Vị Xuyên, việc đưa phương tiện lớn lên núi vừa không khả thi, vừa có nguy cơ làm xáo trộn hiện trường, ảnh hưởng đến các dấu tích còn lại nên hầu hết công đoạn đều phải thực hiện bằng sức người. Tại điểm có đá lớn đè lên vị trí nghi có hài cốt, các chiến sĩ phải sử dụng máy khoan, khoan từng lỗ nhỏ rồi cẩn thận cậy, dịch chuyển từng phiến đá. Mỗi tảng đá được đưa ra ngoài có thể phải mất hàng giờ, thậm chí nhiều ngày. Tất cả phải được thực hiện chậm rãi để tránh làm tổn hại thêm những phần xương cốt đã bị phong hóa, vỡ vụn sau hàng chục năm.

Mắt hướng về những dãy núi từng được những người lính Vị Xuyên gọi là “lò vôi thế kỷ”, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Toàn thuộc C23, Sư đoàn 356, có mặt tại mặt trận Vị Xuyên từ năm 1984 đến cuối năm 1986 nghẹn ngào: “Những người lính Vị Xuyên chúng tôi phần lớn nằm lại ở những vách đá kia”. Ngày ấy, pháo đạn dội xuống dữ dội đến mức cây cối bị xóa sạch, núi đá vỡ vụn, trắng xóa.

Thông tin từ các cựu chiến binh từng chiến đấu tại Vị Xuyên là nguồn tư liệu quan trọng giúp lực lượng quy tập khoanh vùng tìm kiếm. Từ ký ức về một căn hầm, đoạn chiến hào, mỏm đá hoặc con đường cơ động năm xưa, đội tìm kiếm đối chiếu với bản đồ, dấu tích hiện trường để xác định những khu vực nghi vấn. Tuy nhiên, thực địa ngày nay đã khác rất nhiều so với thời chiến. Nhiều hầm hào bị vùi lấp, cây rừng phủ kín, đá núi sạt xuống làm biến dạng địa hình. Có vị trí các cựu chiến binh vẫn nhớ nhưng khi trở lại không thể xác định chính xác phương hướng. Bởi vậy, dù có nhân chứng chỉ dẫn, lực lượng quy tập vẫn phải khảo sát rộng, đào lần lượt từ chân đồi lên cao.

Có những khe đá nhỏ đến mức ban đầu các chiến sĩ chỉ nhìn thấy một phần xương rất nhỏ. Sau khi khoan, mở rộng khe và di chuyển đất đá chung quanh, cả bộ hài cốt mới dần lộ ra. Công việc tìm kiếm vì thế không chỉ đòi hỏi sức khỏe mà còn cần sự kiên trì và cẩn trọng đặc biệt. Trong nắng nóng, các chiến sĩ bám vách đá, khoan từng tảng đá. Sau mưa, đất núi trơn trượt, nước chảy qua các khe sâu khiến việc tiếp cận càng nguy hiểm. Có ngày, cả đội làm việc từ sáng đến chiều nhưng chỉ mở thêm được một khoảng rất nhỏ. Song không ai cho phép mình vội vàng. Dưới mỗi phiến đá có thể là một phần hài cốt. Sau mỗi tọa độ được đánh dấu có thể là niềm hy vọng tìm người thân của một gia đình suốt hơn 40 năm.

52.jpg
Các chiến sĩ đội quy tập nhẹ nhàng bới từng tấc đất tại cao điểm 772.

Từ những gì sót lại

Có trường hợp khi nhấc được lớp đá phía trên, các chiến sĩ tìm thấy một bàn chân vẫn còn nguyên trong chiếc tất. Gần đó là xương cẳng chân và khớp gối. Phần xương đùi bị một khối đá khác đè lên, trong khi đốt sống cổ và xương sống lại nằm rải rác trong phạm vi rộng từ 5 đến 7m². Sức ép của những trận pháo kích dữ dội đã làm hài cốt không còn nguyên vẹn. Đá vỡ, đá lăn và đất núi sạt xuống khiến các phần xương bị phân tán ra nhiều hướng. Có những liệt sĩ có thể đã chịu liên tiếp nhiều quả pháo, khiến dấu tích còn lại rất ít.

Trong hoàn cảnh ấy, việc thu thập mẫu sinh phẩm để xác định danh tính cũng gặp nhiều khó khăn. Các chiến sĩ phải kiên trì tìm những phần xương còn chắc như xương ống đồng hoặc răng để lấy mẫu ADN. Mọi phần xương tìm thấy đều được kiểm tra cẩn thận, đánh số, lập hồ sơ trước khi đưa vào tiểu quách.

Ngay tại hiện trường, lực lượng quy tập sử dụng máy định vị GPS để ghi nhận chính xác tọa độ. Số hiệu mẫu sinh phẩm được gắn với vị trí phát hiện nhằm bảo đảm dữ liệu không bị nhầm lẫn trong quá trình quản lý, đối chiếu và giám định. Thiết bị định vị còn được dùng để xác định chiều dài, hướng tuyến và khối lượng đào đắp của những hệ thống hầm hào được phát hiện. Từ dữ liệu thu thập tại thực địa, đội quy tập dựng lại sơ đồ vị trí, phục vụ việc báo cáo, khảo sát và tiếp tục mở rộng phạm vi tìm kiếm.

Việc xác định danh tính liệt sĩ vẫn là chặng đường nhiều gian nan. Phần lớn các hài cốt không còn giấy tờ, vải vóc hoặc di vật có thể nhận dạng. Sau hàng chục năm nằm trong đất đá, nhiều vật dụng đã mục nát hoặc bị pháo đạn làm mất hoàn toàn. Đại úy Lý Văn Quyền nhớ trường hợp hiếm hoi một liệt sĩ tên Quỳ, quê ở Thái Nguyên, được tìm thấy cùng chứng minh thư còn giữ trong người. Nhờ đó, danh tính liệt sĩ được xác định và hài cốt đã được đưa về quê nhà. Đó là một trong số rất ít trường hợp có thể gọi đúng tên ngay sau khi tìm thấy.

Những người lính được quy tập, nếu có đủ điều kiện lấy mẫu sinh phẩm, vẫn phải chờ kết quả giám định ADN và đối chiếu với dữ liệu thân nhân. Có lần, lực lượng tìm kiếm phát hiện hài cốt của bảy liệt sĩ nằm cạnh nhau trong một hang sập tại cao điểm A6B. Theo nhận định ban đầu, các chiến sĩ có thể đã chịu sức ép thuốc nổ, bị ngất hoặc mắc kẹt trong hang, không thể thoát ra ngoài.

Từ khi triển khai Chiến dịch “500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính HCLS”, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tuyên Quang đã huy động hơn 14.600 lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia thực hiện nhiệm vụ; triển khai lực lượng tìm kiếm, khảo sát, xác minh thông tin tại các khu vực trọng điểm thuộc các xã Thanh Thủy, Bạch Đích, Minh Tân và Xín Mần. Đến nay, các lực lượng đã tiếp nhận 56 nguồn thông tin, khảo sát, xác minh 49 nguồn, trong đó có 7 nguồn tin chính xác và quy tập được 51 HCLS.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.