Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.
Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Ngược lên đỉnh gió

Sáng sớm, Cu Vơ chìm trong biển mây. Những vạt rừng trẩu nối nhau phủ kín sườn núi, thấp thoáng dưới tán lá là những mái nhà sàn, ruộng lúa mơn mởn và mặt ao lấp lánh ánh nắng. Tiếng mõ trâu gọi đàn vọng từ triền đồi, hòa vào tiếng nước róc rách từ khe suối len qua những thửa ruộng.

Khó ai có thể hình dung vùng đất thanh bình ấy từng là nơi mà người Vân Kiều nhắc đến bằng những cái lắc đầu. Mùa hè, nắng hun khô mặt đất, lau lách cháy vàng, gió thổi rát mặt. Mùa đông, gió chướng quần thảo suốt nhiều tháng khiến cây cối còi cọc, nước chỉ nhỏ từng giọt. Vùng đất ấy nhiều người từng đi ngang qua nhưng chẳng mấy ai nghĩ sẽ dừng chân. Ngoại trừ Hồ Văn Thương. Ông sinh ra bên dòng Rào Quán, nơi bản Miệt (thuộc xã Hướng Phùng) của người Vân Kiều từng quần tụ qua nhiều thế hệ. Thuở còn trai trẻ, ông thường lùa đàn trâu lên Cu Vơ kiếm cỏ. Hết mùa, đàn gia súc lại theo chủ trở về bản cũ. Những chuyến đi ấy giúp ông thuộc từng con dốc, từng bãi cỏ, từng khe nước giữa đại ngàn. Trong mắt nhiều người, Cu Vơ chỉ có gió và đá. Còn Hồ Văn Thương lại nhìn thấy một thứ khác: “Cu Vơ nhiều đất lắm. Chỉ cần chịu làm thì đất sẽ không phụ người".

Năm 2003, tỉnh Quảng Trị khởi công xây dựng công trình thủy lợi-thủy điện trên sông Rào Quán. Người Vân Kiều ở bản Miệt phải di dời đến nơi ở mới là khu tái định cư Hoong Cóc, Xa Bai - gần trung tâm xã Hướng Linh lúc bấy giờ. Một mình ông Thương lại lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ để khai hoang mở đất, xây dựng cuộc sống mới.

Ngày ấy, đường lên núi chỉ là một lối mòn vắt qua sườn dốc. Một bên vách đá, một bên vực sâu. Muốn đưa bao lúa, tấm gỗ hay vật dụng sinh hoạt lên nơi ở mới đều phải gùi trên vai. Có đoạn dốc dựng đứng, người đi phải bám vào rễ cây mới khỏi trượt chân. Lên đến nơi, trước mắt ông chỉ có lau lách cao quá đầu người, những gò đất lổn nhổn đá và những cơn gió gần như chưa bao giờ ngừng thổi. Muốn sống được ở đây, chỉ còn một cách tự tay tạo ra sự sống.

Ông Thương bắt đầu khai hoang bằng chiếc cuốc và đôi vai của mình. “Đất ở chỗ cao được gánh xuống chỗ thấp để tạo mặt bằng. Có khi cả một năm trời mới khai phá được một, hai sào ruộng. Làm xong lại dẫn nước vào thử mặt bằng, chỗ nào cao thì tiếp tục gạt đất, chỗ nào thấp thì đắp thêm bờ. Cứ thế, từng khoảnh ruộng nhỏ dần hiện lên giữa vùng đồi vốn chỉ có lau lách và gió”, ông Thương kể lại.

Ông Thương nói, khó khăn lớn nhất là nước. Ở Cu Vơ, nước ít đến mức phải chắt chiu từng dòng. Ông lặn lội vào tận những cánh rừng nguyên sinh, lần theo các khe nước đầu nguồn rồi đào vét, mở dòng, dẫn nước về tận nơi ở và ruộng lúa. Ông không nhớ chính xác mất bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm cho công việc ấy. Chỉ biết từ những lối đi của ông, nước đã tìm được đường về với Cu Vơ.

Những năm đầu lập nghiệp, cuộc sống vô cùng chật vật. Ngoài chăn trâu và khai hoang, ông còn vào rừng nhặt phế liệu chiến tranh đem bán để có tiền mua gạo, muối và những vật dụng tối thiểu cho gia đình. Đại ngàn khi ấy vẫn còn lưu lại không ít dấu tích của chiến tranh. Những mảnh sắt gỉ, vỏ đạn, xác bom cũ trở thành nguồn thu ít ỏi nuôi giấc mơ bám núi của người đàn ông Vân Kiều.

Rồi biến cố xảy đến. Mùa đông năm ấy, gió chướng tràn về dai dẳng. Đàn trâu gần 60 con, tài sản lớn nhất của gia đình lần lượt đổ bệnh. Chỉ trong một thời gian ngắn, gần một nửa số trâu chết vì đói rét và dịch bệnh. Có những buổi chiều, ông lặng lẽ ngồi trên phiến đá giữa lưng chừng dốc nhìn về phía bản cũ bên dòng Rào Quán. Nơi ấy có mái nhà cũ, có ký ức của nhiều thế hệ và có cuộc sống bình yên mà ông đã chủ động rời bỏ.

Nếu quay về, có lẽ mọi thứ sẽ dễ dàng hơn. Nhưng sau nhiều đêm trăn trở, ông chọn ở lại. Ông nghĩ, muốn giữ được đàn trâu và ruộng lúa, trước hết phải tìm cách giữ được đất, giữ được nước và chặn được gió. Tình cờ một lần ông bắt gặp những cây trẩu xanh tốt, nở hoa giữa vùng núi khắc nghiệt. Trong ông chợt lóe lên ý nghĩ, nếu một cây trẩu có thể sống giữa gió chướng thì cả một cánh rừng trẩu liệu có thể chặn được gió cho Cu Vơ hay không?

Câu hỏi ấy mở ra bước ngoặt lớn nhất trong cuộc đời người đàn ông khai hoang. Từ đó, chiếc cuốc trên vai ông không còn chỉ để mở đất làm ruộng mà còn để gieo xuống Cu Vơ những hạt mầm đầu tiên của một khu rừng.

51.jpg
Ông Hồ Văn Thương miệt mài đào mương mở đường dẫn nước về Cu Vơ.

Gieo rừng, dựng bản

Sau ngày nhìn thấy cây trẩu nở hoa giữa mưa rét, Hồ Văn Thương bắt đầu lặng lẽ đi nhặt từng hạt trẩu già dưới tán rừng, mang về ươm rồi trồng dọc những triền đồi quanh nơi ở. Ông nói: "Sống ở rừng phải dựa vào rừng. Bảo vệ rừng là bảo vệ nguồn sống của mình". Sau này, ông vẫn thường nói với các con và với những người tìm đến Cu Vơ lập nghiệp như thế.

Ông tình nguyện nhận khoán bảo vệ rừng, trở thành cộng tác viên giữ rừng của lâm trường. Mỗi chuyến lên nương, ông đều ghé qua những khoảnh rừng mình đã trồng, nhổ cỏ, phát dây leo, thay những cây chết bằng cây mới. Mùa này qua mùa khác, những hạt trẩu âm thầm bén rễ, lớn lên thành những vạt rừng xanh.

Khi những cánh rừng đủ lớn, điều kỳ diệu cũng dần xuất hiện. Gió chướng không còn quần thảo dữ dội như trước. Đất giữ được độ ẩm lâu hơn. Những khe nước vốn cạn kiệt vào mùa khô bắt đầu có dòng chảy ổn định. Bóng cây phủ xuống sườn đồi, che mát cho đàn gia súc và giữ lại lớp mùn màu mỡ nuôi ruộng lúa. Ông không tiếp tục phát nương làm rẫy như tập quán của nhiều hộ đồng bào trước đây mà chuyển sang khai hoang ruộng nước. Hơn nửa héc-ta đất ven rừng được san gạt thành những thửa ruộng bằng phẳng. Ông xem tivi, tự học cách trồng lúa của người miền xuôi rồi đem áp dụng giữa đỉnh Cu Vơ. Ông dùng phân chuồng từ đàn trâu để bón ruộng. Mỗi năm chỉ gieo cấy một vụ. Vụ còn lại, ông dẫn nước từ khe suối vào ruộng để thả cá. “Mỗi vụ lúa tôi thu về hơn 2 tấn thóc, đủ lương thực cho cả gia đình, còn cá dưới ruộng trở thành nguồn thực phẩm quanh năm”, ông Thương cho biết.

Cũng từ đó, người dân bắt đầu nhìn Cu Vơ bằng con mắt khác. Rồi từng gia đình nối nhau lên Cu Vơ dựng nhà. Ban đầu chỉ vài hộ, đến hàng chục hộ. Mỗi lần có người mới đến, ông Thương lại có mặt. Khi thì giúp chọn nơi dựng nhà, khi thì chỉ chỗ lấy nước, hướng dẫn cách khai hoang. Nhà nào thiếu giống, ông mang vài chục cân lúa sang chia. Nhà nào chưa có gia cầm, ông cho đôi gà, cặp ngan gây dựng đàn. Có người chưa biết giữ rừng, ông lại kiên nhẫn giải thích vì sao phải để cây lớn, vì sao không được chặt phá bừa bãi. Bà con nhờ đó dần thay đổi nếp nghĩ.

Cánh rừng trẩu ông trồng năm nào cũng nở hoa vào tháng 3, tháng 9 quả chín rụng đầy mặt đất. Bà con thu lượm mang bán để kiếm thêm thu nhập. Ông Thương từng bảo, ngày trước nhiều người nghĩ oan rằng ông trồng rừng để bán đất cho lâm trường. Nhưng rồi chính những cánh rừng ấy lại mang đến việc làm, mang đến tiền mua gạo, mua sách vở, xe đạp và quần áo mới cho con trẻ.

Niềm vui lớn nhất của ông là mỗi lần đứng trên đỉnh Cu Vơ nhìn xuống, nơi từng chỉ có lau lách và gió chướng giờ đã hiện lên một bản làng no ấm. Từ một hộ gia đình đơn độc năm nào, Cu Vơ hôm nay đã có 88 hộ dân sinh sống. Những con đường đất hẹp chỉ vừa dấu chân người đã được mở rộng. Dưới những tán rừng tái sinh là những mái nhà sàn bình yên, những cánh đồng lúa xanh theo mùa và những ao cá đầy nước.

53.jpg
Hoa trẩu trắng do ông Thương trồng ở Cu Vơ không chỉ ngăn gió chướng mà còn mang lại nguồn thu nhập cho bà con.

Chiều xuống, những cánh rừng trẩu trên Cu Vơ đổ bóng dài xuống các thửa ruộng. Tiếng trẻ con gọi nhau vang giữa bản, lẫn trong tiếng mõ trâu vọng từ sườn núi. Ít ai còn nhớ người đàn ông Vân Kiều năm ấy đã gánh bao nhiêu quang đất, đào bao nhiêu mét mương hay gieo xuống bao nhiêu hạt trẩu đầu tiên. Chỉ biết rằng, nếu không có những bước chân ngược núi của ông gần 30 năm trước, Cu Vơ có lẽ vẫn chỉ là một cái tên nằm giữa gió chướng và lau lách.

Giờ đây, mỗi mùa hoa trẩu nở trắng sườn đồi, người già trong bản vẫn kể cho con cháu nghe về người đàn ông đầu tiên dám lên núi dựng nhà, giữ rừng, dẫn nước và gieo xuống đại ngàn niềm tin rằng đất sẽ không phụ người!

Có thể bạn quan tâm

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.

Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.

Phút giây sinh tử của người chiến sĩ an ninh hàng không

Không lâu sau khi máy bay cất cánh từ đường băng sân bay Đà Nẵng, bọn không tặc ra tay hành động. Hai tên phía trước đứng dậy rút lựu đạn, hai tên phía sau hét lớn, khống chế hành khách. Trong khoang chiếc máy bay 45 chỗ ngồi chật chội, không khí hoảng loạn, tiếng la hét, tiếng kêu khóc lẫn trong tiếng quát tháo đe dọa...

Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.

Đánh thức hương chè cổ giữa ngàn mây Tả Củ Tỷ

Trong bảng lảng sương mây bao phủ khắp đỉnh Tả Củ Tỷ (Lào Cai), nơi những dãy núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành ngăn cách nơi này với thế giới bên ngoài, có một loài cây đã bám rễ sâu vào lòng đất từ hàng trăm năm trước. Đó là chè Tuyết Shan cổ thụ - báu vật của đại ngàn.

Đại tá phi công Hoàng Biểu.

Ánh sao đêm trên cung lửa

Có những chuyến bay đêm trên vùng trời Khu 4, từ độ cao vài nghìn mét, Đại tá, phi công Hoàng Biểu nhìn xuống mặt đất chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Không làng mạc, không ánh đèn. Chỉ có mùi của chiến tranh ngột ngạt và đáng sợ.