Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.
Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Nghề đan lát vẫn âm thầm tồn tại trong nhiều gia đình người Vân Kiều, Pa Kô như một phần của nhịp sống thường ngày. Chiếc gùi đan trên lưng, theo họ vào rừng, lên rẫy được gọi là a chói.

Từ cánh rừng vào từng nếp nhà

Bao đời nay, tre, mây từ đại ngàn qua đôi bàn tay người Vân Kiều, Pa Kô dọc dãy Trường Sơn đã trở thành những vật dụng quen thuộc trong cuộc sống thường ngày. Trong từng nếp đan của người nghệ nhân có kinh nghiệm ứng xử với rừng, ý thức gìn giữ thiên nhiên và những giá trị văn hóa được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Người già đan để truyền nghề, có thêm thu nhập, còn lớp trẻ học những đường nan đầu tiên từ cha mẹ, ông bà để giữ nghề. Để có nguyên liệu, bà con thường lên rừng chọn những cây tre, cây mây vừa đủ tuổi. Ông Thành nói: “Muốn có một chiếc gùi bền, cây tre phải đủ tuổi nhưng chưa được quá già. Cây mây phải mọc ở khu rừng ẩm, thân thẳng, sợi dẻo. Chặt nhầm một cây còn non là hỏng cả sản phẩm, lấy quá nhiều cũng đồng nghĩa với việc tự cắt đi nguồn nguyên liệu của những mùa sau”. Rồi ông tiếp lời: "Người ngoài nhìn thì thấy các sản phẩm giống nhau, nhưng người làm nghề sẽ nhận ra ngay chiếc nào của người Vân Kiều, chiếc nào của người Pa Kô. Từ độ nghiêng của thân gùi, cách xử lý phần miệng cho đến kiểu đan đều có nét riêng. Đó không phải làm khác đi cho đẹp, mà vì mỗi cộng đồng có thói quen sử dụng khác nhau. Bao nhiêu đời nay vẫn truyền lại như thế".

Trên hiên ngôi nhà sàn tựa lưng vào vách núi, bà Hồ Thị Hoa vừa thoăn thoắt chuốt nan vừa kể về công việc đã theo mình gần như suốt cuộc đời: "Ngày trước trong nhà cái gì cũng bằng tre với mây. Đi rẫy có gùi, đi suối có giỏ, đựng lúa cũng bằng mây tre. Lớn lên ai cũng biết chẻ nan, biết đan vài thứ để dùng. Bây giờ đồ nhựa nhiều rồi nhưng tôi vẫn thích dùng đồ mình làm. Nó nhẹ, bền, hỏng thì lại trở về với đất. Mỗi lần ngồi đan tôi lại nhớ cha mẹ ngày xưa cũng ngồi đúng chỗ này, cũng cặm cụi từ sáng đến tối. Nghề theo mình lâu quá rồi, bỏ thì thấy như thiếu một phần của cuộc sống".

Lời tâm sự của người phụ nữ ngoài sáu mươi tuổi không chỉ gợi nhớ về một nghề truyền thống. Đó còn là câu chuyện về cách một cộng đồng lưu giữ ký ức của mình qua những vật dụng giản dị nhất. Ở nhiều nơi, lịch sử được ghi trong sách, trong bia đá hay những công trình đồ sộ. Còn với người Vân Kiều, Pa Kô, lịch sử hiện diện ngay trong chiếc gùi bạc màu theo năm tháng, trong lớp khói bếp đã hun đen từng sợi mây và trong những đôi bàn tay vẫn kiên nhẫn nối tiếp từng đường nan như cách cha ông họ đã làm từ hàng trăm năm trước.

Lưu giữ tri thức của núi rừng

Nếu chỉ nhìn một chiếc a chói đã hoàn thiện, ít ai hình dung phía sau nó là hàng chục công đoạn nối tiếp nhau, bắt đầu từ lúc người thợ đặt chân vào rừng cho đến khi chiếc gùi được treo lên giàn bếp "ăn khói". Điều làm nên giá trị của nghề đan lát Vân Kiều, Pa Kô nằm ở chỗ mỗi thao tác đều là kết quả của sự quan sát thiên nhiên được tích lũy qua nhiều thế hệ. Trong câu chuyện nghề, người thợ không nói đến những nguyên lý cơ học hay vật liệu học. Họ chỉ bảo nhau rằng tre phải đủ già để chịu lực, mây phải đủ dẻo để ôm lấy nhau, còn chiếc gùi muốn bền thì phải đan bằng ý nghĩ trước khi dùng đôi tay. Bởi vậy, nghề đan lát không chỉ tạo ra vật dụng sinh hoạt, nó còn lưu giữ một kho tri thức bản địa đặc sắc của cư dân Trường Sơn.

Ông Hồ Văn Ngải, ở xã Lìa, nói: "Nhiều người nghĩ cứ cầm nan lên là đan được, nhưng không phải. Khó nhất là dựng cái khung đầu tiên. Khung lệch thì đan đẹp mấy chiếc gùi cũng không đứng dáng. Với chiếc a chói, người thợ phải chọn được cây tre thật thẳng từ lúc còn ở trong rừng. Đem về lại hơ lửa cho tre chín, rồi mới chẻ, chuốt. Nan dày quá thì gùi nặng, mỏng quá thì không chịu được sức. Làm lâu năm rồi nhìn bằng mắt cũng biết phải chẻ đến đâu".

52.jpg
Chiếc gùi (a chói) là vật dụng thân thuộc của đồng bào mỗi ngày lên rẫy.

Có một chi tiết rất thú vị mà chỉ khi theo chân người dân bản chúng tôi mới nhận ra. Ấy là những chiếc gùi tuy cùng công dụng nhưng hiếm khi giống hệt nhau. Có chiếc thân tròn, có chiếc thuôn dài, chiếc dùng để gùi lúa, chiếc dành riêng gùi củi. Chiếc đựng lễ vật trong những dịp trọng đại của dòng họ, chiếc lại theo người phụ nữ lên nương mỗi ngày. Ngay cả phần miệng gùi cũng được xử lý khác nhau để phù hợp từng mục đích sử dụng. Điều đó khiến mỗi sản phẩm gần như là một độc bản, mang dấu ấn của chính người tạo ra nó.

Hơn 70 năm sống cùng nghề đan, ông Hồ Xuân Tham, ở xã La Lay, nói: "Làm cái gùi không phải cứ ngồi đan là xong. Thời gian chuẩn bị nguyên liệu còn nhiều hơn thời gian đan. Chỉ riêng chọn tre, lấy mây đã mất mấy ngày. Đan phần đáy xong mới lên thân, rồi làm miệng, nẹp và quai. Có khi gần ba ngày mới xong một chiếc a chói, nhưng nếu khách muốn làm đẹp hơn, kỹ hơn thì còn lâu nữa. Người làm nghề không ai vội được. Mình vội thì nhìn chiếc gùi sẽ biết ngay". Để hoàn thành một sản phẩm, người thợ còn có một công đoạn đặc biệt là gác chiếc gùi lên giàn bếp. Khói bếp len lỏi từng ngày vào từng sợi tre, sợi mây, làm vật liệu khô dần, săn chắc hơn và chuyển sang màu nâu sẫm rất đặc trưng. Không cần bất kỳ loại hóa chất nào, thời gian và khói bếp đã trở thành chất bảo quản tự nhiên hiệu quả nhất. Người Vân Kiều, Pa Kô vẫn nói vui rằng, chiếc gùi ăn khói cũng giống con người, phải qua lửa mới đủ cứng cáp để đồng hành cùng cuộc sống. Khoảng thời gian treo gùi gác bếp là lúc để một vật dụng dần trở thành thành viên của ngôi nhà.

Giữ nghề để giữ lấy một nếp sống

Trải qua bao đổi thay của cuộc sống, đồng bào nơi đây vẫn lặng lẽ giữ lấy nghề đan lát như giữ một phần “căn cước” của dân tộc mình. Suốt hơn 80 năm cuộc đời, ông Hồ Xuân Tham không còn nhớ chính xác mình đã đan bao nhiêu chiếc gùi. Chỉ biết rằng, từ năm 10 tuổi theo cha học nghề đến nay, cuộc đời ông gần như chưa từng rời khỏi những sợi mây, nan tre. "Cha tôi dạy rằng, làm cái gùi cũng như làm người, phải chắc từ bên trong. Làm ẩu thì dùng vài bữa sẽ hỏng, làm cẩn thận thì theo mình 10 năm, 20 năm vẫn còn tốt. Tôi giữ nghề đan vì sợ mai này không còn ai biết làm nữa. Nếu lớp trẻ không học thì sau này muốn tìm một chiếc a chói đúng kiểu cũng khó". Đó cũng là lý do ông Tham chọn tiếp tục đan gùi. "Ông bà, cha mẹ tôi đều biết đan. Lớn lên tôi cũng học để làm đồ dùng trong nhà. Sau này bà con thấy đan đẹp nên đặt mua. Mỗi chiếc gùi bán khoảng 200 nghìn đồng, làm thêm dây đeo thì được thêm ít tiền công. Nghề này không giàu được vì làm rất lâu mới xong một sản phẩm. Nhưng bỏ thì tiếc. Người khác nhìn vào thấy đó là cái gùi, còn mình nhìn thấy nghề của cha mẹ để lại", ông Tham bộc bạch.

Bà con đan gùi cũng giữ nguyên tắc riêng khi khai thác nguyên liệu. Họ chỉ chọn những cây tre, cây mây đã đủ tuổi, chừa lại cây non để tiếp tục sinh trưởng. Khi lấy mây, người dân thường phát dọn dây leo già cỗi để tạo khoảng trống cho mầm mới phát triển. Họ không gọi đó là bảo vệ đa dạng sinh học hay phát triển bền vững. Đơn giản bởi người dân hiểu rằng, nếu cánh rừng cạn kiệt thì nghề đan cũng sẽ mất theo. Mối quan hệ ấy tồn tại tự nhiên được truyền từ đời này sang đời khác.

Ông Hồ Văn Hiền, Phó Chủ tịch UBND xã La Lay, chia sẻ, địa phương đang từng bước khuyến khích người dân duy trì nghề truyền thống, gắn với phát triển du lịch cộng đồng và các sản phẩm thân thiện với môi trường. Đó không chỉ là hướng tạo thêm sinh kế mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô trong đời sống hiện đại.

Có thể bạn quan tâm

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.

Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.

Phút giây sinh tử của người chiến sĩ an ninh hàng không

Không lâu sau khi máy bay cất cánh từ đường băng sân bay Đà Nẵng, bọn không tặc ra tay hành động. Hai tên phía trước đứng dậy rút lựu đạn, hai tên phía sau hét lớn, khống chế hành khách. Trong khoang chiếc máy bay 45 chỗ ngồi chật chội, không khí hoảng loạn, tiếng la hét, tiếng kêu khóc lẫn trong tiếng quát tháo đe dọa...

Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.

Đánh thức hương chè cổ giữa ngàn mây Tả Củ Tỷ

Trong bảng lảng sương mây bao phủ khắp đỉnh Tả Củ Tỷ (Lào Cai), nơi những dãy núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành ngăn cách nơi này với thế giới bên ngoài, có một loài cây đã bám rễ sâu vào lòng đất từ hàng trăm năm trước. Đó là chè Tuyết Shan cổ thụ - báu vật của đại ngàn.

Đại tá phi công Hoàng Biểu.

Ánh sao đêm trên cung lửa

Có những chuyến bay đêm trên vùng trời Khu 4, từ độ cao vài nghìn mét, Đại tá, phi công Hoàng Biểu nhìn xuống mặt đất chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Không làng mạc, không ánh đèn. Chỉ có mùi của chiến tranh ngột ngạt và đáng sợ.

Đảo Trường Sa Lớn. Ảnh: HẢI NAM

Những hòn đảo đang lớn (kỳ 1)

Không phải mọi điều ở quần đảo Trường Sa đều quá mới mẻ. Nhưng vẫn có những câu chuyện đủ để giữ lại, dù là người mới đến đó một lần hay đã nhiều lần.

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Buôn lậu sừng tê giác, ngà voi hay cao hổ, báo, xương sư tử… vốn là loại hình buôn bán cực kỳ đặc biệt bởi “mặt hàng kinh doanh” này được cả thế giới bảo vệ, thu dung và chăm sóc.

Cựu chiến binh Trần Chiến Chinh (bên phải) và cựu chiến binh Lê Phú Tháo thời trẻ.

Ký ức đất lửa Hòa Vang (kỳ 1)

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là vùng ven thành phố Đà Nẵng, Hòa Vang đã trở thành chiếc răng nanh thép cắm sâu vào yết hầu quân thù. Giữa vòng vây siết nghẹt của đồn bốt, quân và dân nơi đây đã viết nên bản hùng ca bất tử.

Trẻ khiếm thính tham gia hoạt động ngoại khóa.

Rút ngắn khoảng cách để nối dài yêu thương

“Trong hành trình 14 năm vừa làm mẹ vừa đồng hành cùng con, dù đã gặp nhiều người cùng hoàn cảnh nhưng đối với gia đình, con vẫn là riêng biệt nhất”, chị Nông Thị Tình, thành viên nhóm cha mẹ trẻ khiếm thính ở Thái Nguyên chia sẻ.