Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.
Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Kỳ 1: Xuyên rừng tìm chỉ dấu

Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, tháng 7/2026.

Thiếu tá Phạm Văn Hường, Tiểu đội trưởng Trinh sát Đội quy tập K72 cẩn thận bật đèn pin, mò mẫm một tảng đá có vẻ bất thường dưới gốc cây. Anh ghi lại tọa độ, dọn dẹp một chút chung quanh để tảng đá dễ nhận ra hơn: “Không thể khẳng định được gì, nhưng cứ có dấu hiệu là phải để ý”.

Vừa tạm biệt Kratie (Kampong Thom, Vương quốc Campuchia), sau khi đưa 62 HCLS trở về, toàn đội K72 ngay lập tức lại tiếp tục các đợt tìm kiếm mới. Trọng tâm tìm kiếm đợt này là khu vực xã Minh Đức, khu vực VQG Bù Gia Mập và sân bay Lộc Ninh.

Chỉ dấu nghĩa trang giữa rừng

Vườn Quốc gia Bù Gia Mập có thể xem như địa điểm xa nhất và khó khăn nhất của đội K72 trong đợt tìm kiếm này. Vị trí xác định tìm kiếm là khu vực Đồi quân y Bắc Sơn dựa trên thông tin nhân chứng và tư liệu các đơn vị từng chiến đấu tại đây cung cấp. Thượng tá Vũ Văn Thọ, Đội trưởng Đội K72, nói không thể xác định được con số chính xác, nhưng nếu dựa vào số thương vong thì những người nằm lại trong rừng chưa được đưa về cũng lên tới 1.000.

Lịch sử hành quân của các đơn vị chủ lực miền bắc vào Nam Bộ ghi nhận khu vực Bù Gia Mập là một trong những điểm dừng chân đầu tiên để củng cố lực lượng sau chặng đường dài vượt dãy Trường Sơn, trong đó có Trung đoàn 250A Bắc Sơn (hay Đoàn Bắc Sơn). Cuối năm 1965, ngay sau khi các bộ phận đầu tiên của Đoàn Bắc Sơn đến đóng quân, dịch sốt rét bùng phát trên quy mô lớn. Nhằm cứu chữa thương bệnh binh, Đoàn Bắc Sơn đã thành lập một bệnh viện dã chiến quy mô lớn, huy động thêm các y tá từ các tiểu đoàn bộ binh.

Tổ hợp Đồi Quân y Bắc Sơn nằm trong vùng rừng cấm rộng khoảng 10 km2 thuộc phân khu quản lý của Đồn Biên phòng Đắk Bô ngày nay. Hệ thống công sự tại đây được thiết kế gồm cả trung tâm giải phẫu, nằm ở vùng lòng chảo kín gió trung tâm, quanh đó có các công sự bảo vệ; hệ thống hầm chữ Y và chữ A; các giao thông hào. Nhiều thương bệnh binh hy sinh tại đây được được an táng ngay trên các sườn đồi chung quanh bệnh xá, hình thành nên một nghĩa trang dã chiến lớn chìm trong rừng rậm. Ở cao điểm 319, sát dòng suối Đắk Huýt, được nhân chứng ghi lại là nơi nghĩa trang chính an táng các liệt sĩ của Trung đoàn Bắc Sơn và Trung đoàn 141 (Sư đoàn 7) hy sinh trong giai đoạn 1965-1969.

Trung tá Đào Đức Phương, Đồn trưởng Biên phòng Đắk Bô cho biết, ngay khu vực gần cổng đồn, chỉ cách 150m năm 2014 đã từng khai quật được 43 hài cốt liệt sĩ và đã đưa về nghĩa trang quy tập.

52.jpg
Một mảnh đá có khắc chữ tìm thấy trong quá trình đào thăm dò.

Lật từng viên đá

8 giờ sáng, chúng tôi bắt đầu theo chân đội khảo sát vào rừng. Trung tá Phương bảo đi rừng không thể đi sớm, sương mù che lấp tầm nhìn, cũng không thể về muộn, tầm 4 giờ chiều là rừng đã nhá nhem tối. Thế nên mỗi giờ trong rừng, tất cả đều phải vô cùng khẩn trương.

Ở một phía khác, một đội K72 đã bắt đầu công việc đào thăm dò tìm kiếm. Các vị trí có khi cách nhau cả ngày đi rừng. Không có sóng điện thoại, cách nhau tới vài quả đồi, mọi thông tin chúng tôi chỉ có thể chờ tới tối khi về điểm tập kết tại đồn biên phòng.

Chúng tôi tìm đến nơi được cho là cao điểm 319, sát dòng Đắk Huýt. Chỉ qua một đoạn suối nhỏ là địa giới của nước bạn Campuchia. Bù Gia Mập đang vào mùa mưa, đá trơn nhẫy, bùn kéo chân trì lại, lũ vắt chỉ hóng mùi người để bật mình tanh tách bám vào quần áo. Qua vài chỗ, Trung tá Phương lại chỉ, một quả bom còn sót lại, một vài cái hố sâu mà chắc chắn có bàn tay con người, một dấu vết hầm chữ A hay bếp Hoàng Cầm… Mỗi dấu vết nhìn thấy, cả đoàn lại dừng lại. Thiếu tá Hường bảo nếu có những tảng đá cắm xuống bất thường, có dấu hiệu con người làm thì phải xem xét tỉ mỉ. Mỗi dấu vết như thế, anh lại dừng lại, sờ thật kỹ, anh bảo có thể người chôn cất sẽ khắc lên đá làm dấu, chữ lẫn trong đám rêu, phải kiểm tra thật cẩn thận. Thế nên hành trình của chúng tôi là nhìn thật kỹ dưới chân, trong các gốc cây, đám lá, để ý mỗi gò nổi lên hơi bất thường hay một tảng đá nằm dường như phi logic. Chiến tranh qua hơn nửa thế kỷ, nhưng rừng sâu vẫn còn đầy những dấu vết, như thể bom đạn chỉ mới nổ từ hôm qua. Chúng tôi vào đây khi đã có những đường mòn, đã dễ đi hơn rất nhiều. Nhưng hơn 50 năm trước, có hàng đoàn hàng đoàn quân nối tiếp nhau, chặt cây mở đường, xuyên qua rừng thiêng nước độc để đưa đất nước tới ngày thống nhất. Và rồi, họ nằm lại rất lâu giữa những cánh rừng.

Bước chân chúng tôi nặng trĩu. Dốc cao liên tục. Trung úy Mai Văn Hiền, Đội trưởng đội phòng chống ma túy Đồn Biên phòng Đắk Bô bảo mấy đoạn dốc chúng tôi vừa qua cũng chưa thấm tháp gì lắm. Có một vài điểm nằm sâu hơn, đường dốc còn dài hơn. “Suốt một tiếng chỉ có dốc, ra tới đường là nằm hết cả”, Thiếu tá Hường kể.

Chuyến đi lần này mới chỉ mang tính khảo sát, tìm được điểm nghi vấn, đội tìm kiếm sẽ ghi tọa độ đánh dấu, để đưa lực lượng vào đào thăm dò, tìm kiếm. Cả lực lượng biên phòng, lực lượng kiểm lâm đều vào cuộc hỗ trợ đội K.

Thượng tá Thọ cũng nói, đi rừng khảo sát thế này lại đơn giản. Chứ khi đã xác định vị trí đào thì anh em sẽ phải dựng lán ngay trong rừng sâu, ăn rừng, ngủ rừng: “Mỗi lần đi về cả vài tiếng, làm sao cơ động được, nên chỉ có cách ăn ngủ tại chỗ để đào”.

Qua một ngày, từ khu vực gần Đồn Biên phòng Đắk Bô, đội K72 tìm được một mảnh bia có khắc tên Lê.V.Hỷ và ngày 4.8.67. Chưa có dấu hiệu hài cốt nào được tìm thấy. Ở một góc khác, lực lượng tìm kiếm tìm được một phiến đá có khắc chữ N. Thượng tá Vũ Văn Thọ thì nói thông thường khi an táng liệt sĩ, các đồng đội sẽ đặt phần đầu hướng về miền bắc. Thế nên khi đào, lực lượng tìm kiếm đều cẩn thận chọn góc, hố đào cũng sẽ thường thuận theo chiều đó.

Đại tá Nguyễn Thanh Phong, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Quân sự, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự, Phó Trưởng ban thường trực BCĐ TP Đồng Nai cũng nhận định: “Trong chiến dịch này, cái thuận lợi là các sở, ban, ngành và toàn dân rất quan tâm, cán bộ chiến sĩ đều quyết tâm thực hiện. Nhưng quá trình triển khai trên địa bàn thì cũng gặp nhiều khó khăn. Ở Bù Gia Mập thì địa hình toàn rừng sâu đồi cao, nhiều loại côn trùng ảnh hưởng sức khỏe. Thế nên bộ đội phải làm rất kỹ công tác chuẩn bị”.

Những chỉ dấu vẫn còn rất mờ, phạm vi tìm kiếm quá rộng. Máy móc hiện đại vẫn chưa thể phát huy tác dụng ở đây. Máy xúc không thể vào sâu trong rừng, máy dò hiện đại cũng khó hoạt động ở địa bàn đồi núi phức tạp. Tất cả đều dựa vào sức lính của đội K.

Cũng lúc ấy, từ phía tìm kiếm khu vực xã Minh Đức (huyện Hớn Quản cũ), thông tin báo lại đã tìm ra một số di vật, tăng võng. Một số mảnh nghi là hài cốt đã được lộ diện. Xã Minh Đức nằm dọc theo trục xương sống Quốc lộ 13. Trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, khu vực ngã ba Xa Cát thuộc địa phận Minh Đức chính là cửa ngõ phòng thủ hướng bắc của Sài Gòn, kiểm soát toàn bộ luồng cơ động lực lượng giữa các đô thị trung tâm và vùng biên giới Campuchia.

Khởi đầu từ một khẩu súng AK gỉ sét được một người dân phát hiện, một niềm hy vọng khác mở ra.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.

Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.

Phút giây sinh tử của người chiến sĩ an ninh hàng không

Không lâu sau khi máy bay cất cánh từ đường băng sân bay Đà Nẵng, bọn không tặc ra tay hành động. Hai tên phía trước đứng dậy rút lựu đạn, hai tên phía sau hét lớn, khống chế hành khách. Trong khoang chiếc máy bay 45 chỗ ngồi chật chội, không khí hoảng loạn, tiếng la hét, tiếng kêu khóc lẫn trong tiếng quát tháo đe dọa...

Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.

Đánh thức hương chè cổ giữa ngàn mây Tả Củ Tỷ

Trong bảng lảng sương mây bao phủ khắp đỉnh Tả Củ Tỷ (Lào Cai), nơi những dãy núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành ngăn cách nơi này với thế giới bên ngoài, có một loài cây đã bám rễ sâu vào lòng đất từ hàng trăm năm trước. Đó là chè Tuyết Shan cổ thụ - báu vật của đại ngàn.

Đại tá phi công Hoàng Biểu.

Ánh sao đêm trên cung lửa

Có những chuyến bay đêm trên vùng trời Khu 4, từ độ cao vài nghìn mét, Đại tá, phi công Hoàng Biểu nhìn xuống mặt đất chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Không làng mạc, không ánh đèn. Chỉ có mùi của chiến tranh ngột ngạt và đáng sợ.