Nỗ lực xóa bỏ hủ tục nơi phên dậu

Hôm nay đường vào bản như xa hơn vì mưa cứ rả rích không ngừng, đường trơn trượt khiến Thiếu tá Nguyễn Văn Ngân và đồng đội chẳng thể đi nhanh dù con đường đã quá quen thuộc. Đây đã là lần thứ 5 những cán bộ của Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 379 tới nhà Sùng Thị Hoa (xã Si Pa Phìn, huyện Nậm Pồ, Điện Biên) để thăm hỏi và động viên cô bé đi học trở lại.
Bộ đội Đoàn 379 “3 bám, 4 cùng, 5 có” với dân bản.
Bộ đội Đoàn 379 “3 bám, 4 cùng, 5 có” với dân bản.

Những lời ru buồn trên các bản làng

Cô bé Sùng Thị Hoa lấy chồng, sinh con khi mới chưa đầy 15 tuổi mà chẳng nghĩ ngợi nhiều bởi tục tảo hôn đã tồn tại ở những xã vùng cao biên giới này đã nhiều thế hệ. Chưa đầy 16 tuổi, Hoa đã là mẹ của một cậu con trai và trải qua đổ vỡ hôn nhân.

“Bọn em quen nhau hai tháng rưỡi mới yêu ạ. Lúc yêu thì hứa đủ điều, nhưng mà đẻ con xong lại không muốn lấy nữa, lấy đủ lý do để đuổi mình khỏi nhà họ”, Sùng Thị Hoa nhớ lại.

Quen chóng vánh đã mang bầu, Hoa dọn về nhà ở với chồng mà chưa kịp tổ chức lễ cưới, cũng chưa đủ tuổi để đăng ký kết hôn. Rồi Hoa quay trở về nhà mẹ đẻ vì chồng không còn muốn thừa nhận đứa con.

“Anh chị đi trước thì bảo là nên đi học đừng nên lấy chồng quá sớm, khổ lắm. Nhưng mà lúc đấy vẫn còn nhỏ thì không biết cứ nghĩ là lấy chồng sẽ sướng lắm. Các bạn cùng tuổi thì đi học, có người thì đi làm cũng thấy tốt, còn mình thì…”, Hoa ngừng lại, tay ôm chặt hơn cậu con trai chưa đầy một tuổi đang dụi đầu vào ngực mẹ.

Câu chuyện của Sùng Thị Hoa không hiếm. Sau nhiều chục năm vận động bỏ nạn tảo hôn, vẫn còn những “lời ru buồn” như thế. “Ở dưới này họ ít nơi vui chơi, hiểu biết cũng hạn chế. Cứ mỗi lần có lễ hội, có chợ là tất cả cùng tụ tập. Thấy bạn có người yêu, có chồng mà mình 13 - 14 tuổi vẫn chưa có ai thì là “ế”. Rồi có bầu hoặc thích nhau là dắt nhau về đòi cưới”, Thiếu tá Nguyễn Văn Ngân (Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 379) kể. Nhiều năm làm công tác dân vận, vận động bà con từ bỏ hủ tục, người cán bộ ấy vẫn có phần day dứt khi nhìn thấy những đứa trẻ phải lấy chồng hay làm cha, làm mẹ lúc còn quá trẻ: “Trong mắt bà con thì gái cứ 13, còn trai 16 là lấy được rồi, thay đổi hủ tục truyền nhiều thế hệ như thế thì cần rất nhiều cố gắng. Mình phải đi giảng giải, phân tích cho bà con là không phải cứ lấy sớm là thêm của mà còn là nghèo đi, là ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản”.

“Chúng nó yêu nhau đòi cưới nhau bố mẹ không can được vì thời xưa bố mẹ chúng ai cũng tảo hôn. Không cho chúng nó cưới chúng nó đòi ăn lá ngón”, chị Thào Thị Dua, một người dân ở xã Si Pa Phìn, huyện Nậm Pồ, Điện Biên - tâm sự, “Nhưng đấy là chúng nó trẻ con, người lớn, bố mẹ và các cán bộ lựa lời thì có đứa lại nghe, lại cố gắng học hết cái chữ, đủ tuổi mới cưới”.

Đi từng nhà, rà từng người xóa bỏ hủ tục

Đóng quân trên một địa bàn rộng, bao gồm 28 xã (18 xã biên giới) đặc biệt khó khăn thuộc bốn huyện (Mường Chà, Mường Nhé, Nậm Pồ - tỉnh Điện Biên và Mường Tè - tỉnh Lai Châu), Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 379 không biết đã phải đi bao nhiêu lần, vận động bao nhiêu trường hợp tảo hôn, bỏ học sớm. Sau nhiều chục năm nỗ lực, hiện tỷ lệ tảo hôn tại 28 xã miền núi trên địa bàn đã giảm đáng kể. Những hủ tục như ép cưới hay bắt ép cướp vợ cũng gần như không còn nữa.

“Ngày mới về Đoàn, chính tôi đã cùng các đồng chí khác đi đến tận nhà một thanh niên trong bản vừa “bắt cóc” một cô về làm vợ, thuyết phục mãi. Phong tục là phải yêu rồi mới bắt, nhưng đây chẳng yêu đương gì, cô bé thì nhỏ tuổi bị bắt trên đường, bố mẹ thì ở xa không đến cứu kịp”, Đại tá Nguyễn Văn Thường, Đoàn trưởng đoàn Kinh tế - Quốc phòng 379 nhớ lại. “Chúng tôi đến nhà cậu thanh niên, phân tích, dọa nạt đủ cả thì cậu ta mới thả người. Cô bé con khi ấy khóc đã héo cả người. Giờ gần 20 năm trôi qua, giờ chúng tôi gặp lại mà có nhắc cô ấy vẫn buồn, nước mắt rơi lã chã”.

Hủ tục đã để lại vết thương lòng cho rất nhiều người dân đồng bào nơi đây, thậm chí là nhiều người phải đánh đổi cả sinh mệnh con người. Trầm ngâm nhìn về phía xa, Đại tá Nguyễn Văn Thường kể lại câu chuyện buồn về một sản phụ chỉ vì “tục lệ” nên phải tự dựng lán trong rừng sâu rồi sinh con để cả hai mẹ con đều mất. Sau lần như vậy, những người cán bộ của Đoàn lại càng tự hứa phải quyết tâm sâu sát hơn nữa.

“Một lần khác người dân đến báo, có gia đình con ốm nặng mà không mang đi bệnh viện, nhà chỉ treo cành xanh và đợi làm lý”, Đại tá Thường nhớ lại một lần đi vận động bà con. Làm lý là cách những người dân ở đây tìm đến các thầy cúng, mong muốn cúng bái xua đuổi tà ma, xui xẻo. Nhiều người vì tin vào làm lý mà không cho bác sĩ khám bệnh, không tin vào bộ đội, cán bộ xã, dẫn đến nhiều trường hợp đau lòng. Để thay đổi nhận thức, không thể cứng rắn, cũng không phải ngày một ngày hai. “Hiểu rõ phong tục của bà con rồi, chúng tôi đến và nhất trí cùng bà con làm lý, đồng thời khám bệnh và cấp thuốc, điều trị luôn cho người ốm đấy. Đầu tiên họ cũng không cho uống thuốc nhưng chúng tôi bảo đảm, nếu có gì chúng tôi chịu trách nhiệm, rồi uống thuốc xong người bệnh khỏi”, Đại tá Thường nói về cách giải quyết vấn đề.

Từng là một thầy cúng, từng chỉ tin vào việc có bệnh là do “có ma”, nhưng nay ông Vàng A Khái (xã Ma Thi Hồ, huyện Mường Chà, Điện Biên) đã nghĩ khác, ông tin vào một điều khác nhiều hơn, đó là “Tin Đảng, tin Nhà nước và tin các cán bộ”. Ngôi nhà nhỏ của ông Khái vẫn còn đầy đủ “đồ nghề” của một người thầy cúng, nhưng không phải lúc nào cũng “làm lý”, đặc biệt trong việc chữa bệnh. “Giờ mình làm lý là để giữ phong tục tập quán của người dân tộc mình, như nhà có trẻ con khóc thì mình làm cái lý xem cháu nó có hết khóc không. Chứ nhà mà có người ốm, cán bộ nói một câu là đi viện đi thì mình cũng phải đi viện. Đi xong uống thuốc là khỏe nên tin, tin cán bộ lắm”, ông Khái nói.

Niềm tin dựng xây từ tình quân dân thắm thiết

Cũng bởi có niềm tin mà những hủ tục như tảo hôn, chữa bệnh bằng thầy cúng hay việc tin theo các đạo lạ cũng dần được xóa bỏ. Để có được niềm tin tuyệt đối từ quần chúng nhân dân, suốt 25 năm đóng quân tại địa bàn Khu Kinh tế - Quốc phòng Mường Chà, Đoàn 379 đã thực hiện tốt mô hình “3 bám, 4 cùng, 5 có”

(3 bám: Bám chủ trương đường lối, bám địa bàn, bám dân; 4 cùng: Cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào; 5 có: Có hiểu biết, có tâm huyết, có trách nhiệm, có năng lực ứng xử, có bản lĩnh) để gần gũi, giúp đỡ đồng bào. Lên Đoàn từ những ngày đầu tiên thành lập, Đại tá Nguyễn Văn Thường tự hào kể rằng, mình đã đặt chân đến tất cả những bản làng dù là sâu nhất, xa nhất, đến đâu cũng được người dân nhớ mặt, nhớ tên và “mời vào uống rượu”.

“Khoảng 25 năm trước, địa bàn thuộc phạm vi quản lý của Đoàn 379 gần như không điện, không đường. Lúc đó vào nhà người dân không có gì đáng giá đến 10 nghìn đồng, quần áo không có mà mặc. Ở thì bằng cái bạt tre dựng tạm, họ hàng mới cho thóc lúa để đi làm giống. Đi nương thì kiếm cái gì trong rừng là phải ăn cái đó, bộ đội có khi phải nhường cơm sẻ áo”, Đại tá Thường nhớ lại. “Ngày ấy muốn vào đến các bản, tôi cứ đi bộ ròng rã mất hai ngày, đến bữa dừng lại ăn, mệt thì ngủ tạm đâu đó nhưng lúc nào ý chí cũng cao vì mình là cán bộ trẻ, được đi làm nhiệm vụ, được giúp đỡ người dân. Giờ hạnh phúc nhất là thấy người dân mỗi ngày một khấm khá, người dân thấy mình là hồ hởi ôm hôn”.

Còn với Thiếu tá Nguyễn Văn Ngân, sự gần gũi với giữa anh và người dân được xây dựng từ những hành động nhỏ nhất: “Mình phải tạo sự gần gũi của bà con, mình không chỉ nói bằng lời mà còn phải là những hành động, mình giúp đỡ làm nhà, khai hoang ruộng đất và áp dụng các kỹ thuật chăn nuôi. Đời sống bà con khấm khá rồi, bà con và cán bộ thân thiết rồi thì nói bà con sẽ nghe. Riêng câu chuyện tảo hôn, lúc vận động mình tuyên truyền với các video để bà con nhìn thấy thực tế tác hại của hủ tục ấy, hay những trường hợp như em Hoa thì Đoàn lại giới thiệu việc làm hay các lớp học để em bắt đầu cuộc sống mới. Cái niềm tin được xây dựng từ đó”.

Có lẽ chính bởi trách nhiệm người quân nhân và tình cảm dành cho người đồng bào nơi đây, bước chân của những cán bộ, chiến sĩ của Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 379 suốt nhiều chục năm vẫn không biết mỏi trên các bản làng, ngày và đêm nỗ lực thực hiện nhiệm vụ hết lòng vì nhân dân. Đổi lại, tình yêu thương của người dân dành cho bộ đội cũng thật sâu đậm.

“Có cái cán bộ Đoàn 379 này, cuộc sống người dân là khá hơn nhiều lắm đấy. Các cán bộ cái gì cũng cho, cho dê, cho ngựa, cho cá, yêu các chú bộ đội lắm”, chị Thào Thị Dua (xã Si Pa Phìn, huyện Nậm Pồ, Điện Biên) tâm sự. Nhà chị thuộc diện nghèo, nhờ chính sách cấp phát con giống của Đoàn 379 mà nay nhà đã khấm khá hơn, chị cho các con được đi học.

Tương tự với nhà chị Dua, ông bà Sùng Thị Súa tại xã Ma Thì Hồ, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên cũng vui vẻ phấn khởi nói về chú trâu giúp gia đình “thoát nghèo”: “Hai vợ chồng già nhận được trâu từ cán bộ thì vui lắm, chưa bao giờ nghĩ nhà mình lại có con trâu trong nhà để chăn. Các cán bộ giúp đỡ, quan tâm nên mình lúc nào cũng tin và yêu các cán bộ lắm”.

Nơi vùng cao xa xôi của Tổ quốc, cuộc sống người dân đã ngày càng ấm no hơn, thế trận lòng dân cũng thêm vững chắc khi người dân tin yêu vào bộ đội ta, vào Đảng và Nhà nước.

Có thể bạn quan tâm

Ông Phạm Hữu Phụ và Thượng úy Lê Sỹ Vũ ở thôn Đoàn Kết.

Người ở nông trường, người ra biên giới vùng biên Tây Nam (kỳ 1)

Tuyến biên giới phía Tây Nam tiếp giáp giữa Việt Nam và Campuchia giữ vị trí chiến lược đặc biệt trọng yếu đối với quốc phòng, an ninh quốc gia. Thế nhưng do yếu tố lịch sử cùng điều kiện địa hình phức tạp, nhiều đoạn biên giới dài trong nhiều năm gần như vắng bóng người dân sinh sống ổn định. Đầu tháng 4 năm 2019, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 chính thức khởi xướng và triển khai Đề án Xây dựng điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới, đồn, trạm biên phòng (thường được biết đến với tên gọi Đề án 811). Đó là bước ngoặt chiến lược đưa dân ra lập ấp, đưa các dải biên cương thành thế trận biên phòng toàn dân vững chắc. Nhưng những câu chuyện vùng biên, không chỉ nằm ở một đề án.

Anh Lê Quang Đảng gắn bó với thư pháp Việt tròn 20 năm.

Gieo duyên qua nét thư pháp Việt

Để lưu giữ nét đẹp của thư pháp Việt, nhà thư pháp Lê Quang Đảng (36 tuổi) cho rằng, viết một con chữ dựa trên cái tâm muốn làm chứ không vì tấm huy hiệu hay lời khen, mọi công đoạn đều trở nên nhẹ nhàng, tự nhiên như hơi thở. Viết thư pháp Việt là cách giúp anh Đảng kể lại từng câu chuyện sâu thẳm bên trong thế giới nội tâm.

Khung cảnh Ngải Thầu nhìn từ trên cao.

Hoa nở trên mũi đá Ma Cha Va

Tháng chín mùa thu, đang mùa lúa chín, Y Tý đẹp như miền cổ tích. Từ bản nhỏ Chi Chu Lìn, già làng Sùng A Lử, ngước đôi mắt xa xăm về phía vách đá Ngải Thầu. Vách đá nhô ra như chiếc mỏ con diều hâu khổng lồ, xòe đôi cánh lớn trùm lấy ngọn núi Ma Cha Va vòi vọi trên nền trời xanh thăm thẳm.

Con thuyền đưa chúng tôi ngược dòng Ô Lâu lên thượng nguồn.

Ô Lâu, dòng sông của những lời hẹn

Có lần, trong một buổi dừng chân bên đình Lương Điền, phía sau lũy tre làng bỗng vọng ra câu hát ru: “Trăm năm đành lỗi hẹn hò…”. Câu hát cũ đưa chúng tôi lần theo một dòng sông đã đi qua bao miền ký ức của đất Quảng Trị. Nhưng trước khi gặp cây đa, bến cộ (bến sông Ô Lâu), những cuộc tình và những thân phận đời người, chúng tôi ngược lên miền tây Hải Lăng, tìm về nơi những nhánh nước đầu tiên góp thành dòng Ô Lâu. Ở đó, dưới những cánh rừng còn mang dấu tích chiến tranh, có những người đã nằm lại và có những người vẫn miệt mài đi tìm nhau sau hơn nửa thế kỷ.

Chị Trương Thị Phượng và con gái chuẩn bị quần áo đem tặng.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Trở lại Kim Vân

Trở lại Kim Vân

Gần một năm kể từ trận lũ lịch sử tháng 10/2025, ở thôn Kim Vân (xã Văn Lang, tỉnh Thái Nguyên), ám ảnh về đợt thiên tai khủng khiếp vẫn còn đó. Nhưng trong sự thăng trầm của mảnh đất lòng chảo này, một hành trình hồi sinh đang diễn ra trên đồi Lũng Cậu, nơi đang khẩn trương thi công dự án khu tái định cư.

Du khách tham gia du lịch trải nghiệm tại khu sinh thái của vợ chồng Alex- Mai Dung.

Đôi vợ chồng Việt-Đức và thương hiệu Chocolate tương lai

Anh là Axel Krauss đến từ thành phố Quedlinburg ở miền bắc nước Đức. Chị là Lê Mai Dung, sinh ra tại cao nguyên Đà Lạt (Lâm Đồng). Họ đã chọn miền núi rừng xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) để tạo dựng một câu chuyện đẹp. Hòa hợp với rừng và cư dân rừng, đôi vợ chồng Việt-Đức ấy đã trở thành láng giềng, bạn bè và đối tác của đồng bào Cơ Ho, M'Nông địa phương từ nhiều năm nay…

Lê Minh Vũ (bên phải) tham gia công tác trọng tài Giải Yoga tỉnh Khánh Hòa 2026.

Vượt giới hạn cùng Yoga

Với kiện tướng Yoga cấp quốc gia Lê Minh Vũ (26 tuổi, trú phường Phú Xuân, thành phố Huế), Yoga là hành trình lắng nghe, thấu hiểu từng đổi thay của bản thân. Phía sau những kết quả anh Vũ đạt được là sự kiên trì trong luyện tập, sẵn sàng chinh phục từng cấp độ mới. Các tư thế Yoga uyển chuyển, mềm mại tạo cho Vũ một hướng đi khác biệt, chứa đựng sự đam mê đầy nghiêm túc.

Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Ảnh: QĐND

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004). Ảnh tư liệu của Kiều Mai Sơn

Bắc thành khởi nghĩa

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004) nguyên Trưởng ban Nông nghiệp Báo Nhân Dân, tham gia chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Bắc Ninh trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Cách mạng thành công, ông trở thành Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh. Một năm sau, trên báo Cứu quốc (Đặc san Cách mạng Tháng Tám phát hành ngày 19/8/1946), nhà báo Lưu Động đã ôn lại qua bút ký “Bắc thành khởi nghĩa”. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, chúng tôi trích đăng bài bút ký này. Tư liệu do cộng tác viên Kiều Mai Sơn cung cấp.

Bản Hà Lẹc nhìn từ trên cao.

Đổi thay khi nhà sàn đón... người lạ

Một buổi chiều đầu thu, mây từ đỉnh Trường Sơn đổ xuống bản Rum Ho (Kim Ngân, Quảng Trị), phủ mờ những mái nhà sàn nép mình bên triền núi. Tiếng suối len qua từng phiến đá, tiếng gió xào xạc trong tán cây và mùi khói bếp quyện vào hương rừng. Trong căn nhà sàn của mình, chị Hồ Thị Son lặng lẽ trải từng tấm đệm mới.

Tiết mục “Thiên thần đến từ Thiên hà” giành Vương miện Bạc tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026 diễn ra từ ngày 28/5 đến 31/5/2026 tại thành phố Saratov, Liên bang Nga.

Những thiên thần của thánh đường xiếc

Chỉ còn chưa đầy 5 tiếng nữa, tiết mục "Đu Ô" sẽ chính thức công diễn lần đầu tiên. Trong phòng tập của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, tiếng nhạc vẫn đều đều vang lên, xen lẫn những nhịp hô ngắn của huấn luyện viên và âm thanh của đạo cụ va chạm sau mỗi lần tiếp đất. Trên tấm thảm tập đã sờn màu, nữ nghệ sĩ Trần Thanh Hòa và NSƯT Thu Hương (Liên đoàn Xiếc Việt Nam) lặp đi lặp lại từng động tác. Một cú xoay chưa đủ đẹp lại làm lại từ đầu. Một nhịp bắt tay chưa thật khớp cũng phải thực hiện thêm nhiều lần.

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...