Ngược thượng nguồn

Những dòng kênh đặc biệt ở Cà Mau

Sông ngòi, kênh rạch ở Cà Mau dày đặc như mạng nhện, chi chít như mạch máu trong cơ thể con người. Chúng được đặt tên theo nhiều cách khác nhau, trong đó có nhiều kênh đào mang tên “kinh chống Mỹ”…
Những dòng kênh chống Mỹ ở huyện Đầm Dơi đấu nối với các trục sông, rạch lớn, thuận lợi di chuyển đến trung tâm huyện lỵ.
Những dòng kênh chống Mỹ ở huyện Đầm Dơi đấu nối với các trục sông, rạch lớn, thuận lợi di chuyển đến trung tâm huyện lỵ.

Những dòng kênh đa dụng

Hệ thống sông, rạch ở Cà Mau phần lớn hình thành tự nhiên, tổng chiều dài ước tính hơn 10.000km. Riêng những con kênh (phương ngữ Nam Bộ gọi là kinh) thì hầu như được tạo ra bởi công sức đào đắp của con người. Những dòng “kinh chống Mỹ” cũng không ngoại lệ, được hình thành sau những năm 60 thế kỷ trước, thời điểm sau phong trào Ðồng khởi, đánh dấu cục diện vùng lên của cách mạng miền Nam.

Tại vùng sông nước Cà Mau, những năm sau 1960, Căn cứ Tỉnh ủy Cà Mau xây dựng ở Xẻo Ðước (xã Phú Mỹ, huyện Cái Nước), nay thuộc huyện Phú Tân. Thời ấy, hoạt động liên lạc, đi lại… chủ yếu bằng đường sông, rất nguy hiểm khi phải ngang qua nhiều đồn, bốt của kẻ địch. Vì vậy, để bảo đảm vừa bí mật, vừa rút ngắn thời gian di chuyển, song hành với xây dựng các tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang…, Tỉnh ủy Cà Mau chỉ đạo đào các con kênh nhằm thêm “mạch máu” giao thông từ Khu Căn cứ Tỉnh ủy đến các vùng phụ cận, các căn cứ cách mạng ở rừng đước Năm Căn và rừng tràm U Minh.

Tại xã Phú Mỹ, trong mùa khô năm 1961, lực lượng đoàn viên, thanh niên cùng với nông dân trong xã và các xã phụ cận chung tay, hợp sức đào xong kinh chống Mỹ dài hơn sáu cây số, trải dài từ Giáp Nước đến Thứ Vải nằm giáp với sông Bảy Háp (thuộc xã Trần Thới, huyện Cái Nước ngày nay). Đến mùa khô năm 1962, quân và dân Phú Mỹ tiếp tục đào con kinh chống Mỹ thứ hai từ Vàm Ðình qua cánh đồng trũng Trống Vàm, có một đoạn xuyên qua mé rừng trổ ra miền biển Cái Ðôi Vàm.

“Cũng nhờ có thêm con kinh chống Mỹ thứ hai này, cán bộ, bộ đội ta lưu thông nhanh hơn và tránh được sự kiểm soát của lính đồn Vàm Ðình và khu Hải Yến - Bình Hưng”, Bí thư Đảng ủy xã Phú Mỹ Nguyễn Văn Den chia sẻ và cho biết, qua lời cô chú lớn tuổi kể lại thì cũng trong mùa khô năm 1961, phía bên kia sông Bảy Háp, quân và dân, bộ đội xã Năm Căn (huyện Duyên Hải cũ) cũng đào xong kinh chống Mỹ, dài 4-5km xuyên qua Ðồng Ong Nghệ. Phía nam đầu con kênh này giáp với lộ Ðồng Cùng-Năm Căn, phía bắc giáp kênh xáng Cái Ngay.

Từ vùng Khu Căn cứ Tỉnh ủy, phong trào đào kênh chống Mỹ nhanh chóng lan tỏa, trở thành một trong những phong trào thi đua yêu nước ở nhiều vùng nông thôn của Cà Mau. Tại huyện Đầm Dơi (trước là quận Đầm Dơi, thuộc huyện Ngọc Hiển), trong mùa khô năm 1965, sau 45 ngày đêm, quân và dân trong huyện nỗ lực hoàn thành bốn con kinh chống Mỹ, tổng chiều dài khoảng 30km với các đoạn: Tân Đức-Tân Hiệp Lợi; ấp Bá Huê-ấp Mười; kênh Năm Chánh-Tân Thành, Cây Gừa; kênh Hai Hạt-sông Gành Hào. Những con kênh này khi đào xong có bề ngang 4m, sâu 1,5m, nay thuộc địa bàn các xã Quách Phẩm, Trần Phán, Tân Đức, Tân Duyệt.

“Kinh chống Mỹ ở xã hiện nay qua địa bàn ba ấp là Tân Hiệp, Tân Hiệp Lợi B và Hòa Đức, tổng chiều dài khoảng 10km. Điểm đầu và cuối của kinh chống Mỹ trổ ra những con sông lớn, thuận lợi về trung tâm huyện hoặc ra tận Cà Mau. Hồi trước, lưu thông bằng kinh này sẽ né được hai đồn giặc đóng tại địa phương là đồn Tân Đức và Tân Bình”, ông Huỳnh Hoàng Nghiệp, Phó Bí thư, Chủ tịch HĐND xã Tân Đức, tiết lộ.

Theo ông Trần Quốc Đoàn, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Đầm Dơi, ngày trước, mục đích đào kênh chống Mỹ là để mở thêm tuyến giao thông phục vụ kháng chiến, rút ngắn đoạn đường di chuyển, tránh phi pháo địch, bảo đảm việc đi lại, vận chuyển vũ khí, lương thực… “Dù kinh nhỏ, di chuyển bằng xuồng, chủ yếu bơi và chống nhưng nhờ đi đường tắt nên rút ngắn thời gian. Trong mùa khô, con kinh còn có công dụng làm công sự, chiến hào để né tránh pháo kích của kẻ địch”, ông Đoàn chia sẻ.

Qua những địa danh lịch sử

Lợi thế của các con kênh “chống Mỹ” được phát huy nhiều trong mùa mưa. Vì vậy, việc đào kênh được tiến hành trên tinh thần khẩn trương trong mùa khô để có thêm nhiều đường giao thông phục vụ kháng chiến. Trên tinh thần ấy, giai đoạn từ 1961-1968, Cà Mau có hàng loạt dòng kênh “chống Mỹ”, được tạo nên từ sự chung tay, góp sức và tình cảm quân dân.

Đó là các con kênh “Chống Mỹ” phía sau bờ sông Ðốc, từ Phát Thạnh, Rạch Muỗi, Cỏ Xước tiếp giáp với Giao Vàm nằm sát thị xã Cà Mau xưa kia, nay thuộc địa bàn xã Thạnh Phú (huyện Cái Nước) và xã Lợi An (huyện Trần Văn Thời). Bên bờ nam sông Ðốc, kênh “chống Mỹ” từ kênh Hội Ðồng Thành qua Ông Bích, Rạch Bàu, Rạch Cui, So Le, Kiểu Mẫu về Kinh Ðứng, Ðá Bạc. Hai bên bờ kênh này hiện nay đi qua địa phận nhiều ấp của các xã: Khánh Bình, Khánh Bình Ðông, Trần Hợi, Khánh Hưng và Khánh Bình Tây (huyện Trần Văn Thời). Tại huyện Thới Bình, kênh “chống Mỹ” đi tắt từ sông Cái Nai (giáp quốc lộ 63) qua Ðồng Sậy, qua kinh Chắc Băng…

Dần dà, những địa danh đó mang luôn tên gọi “Chống Mỹ”. Đến nay, tuy chưa có con số công bố đầy đủ từ ngành chức năng địa phương về địa danh “Chống Mỹ”, nhưng qua tìm hiểu thực tế và các tư liệu có được, Cà Mau có trên dưới 20 địa danh “chống Mỹ”, chủ yếu đặt tên cho dòng kênh. Cũng có nơi, cũng là kênh “Chống Mỹ” nhưng lại có một tên gọi khác là “kinh Dân Quân”, như: Kênh từ Kiểu Mẫu (xã Khánh Bình Ðông) qua Cơi Năm (xã Khánh Hưng) của huyện Trần Văn Thời nối với kênh Kiểm Lâm (xã Khánh Lâm, huyện U Minh); kênh từ Khánh Lâm qua Khánh Tiến, Khánh Thuận (huyện U Minh) nối với rạch Tiểu Dừa (giáp địa phận tỉnh Kiên Giang)...

Theo ông Nguyễn Chí Thiện, Bí thư Huyện ủy Đầm Dơi, những dòng kênh mang tên “Chống Mỹ”, “Dân Quân” vẫn còn trong ký ức những cô chú đã từng trải qua những tháng năm đầy mưa bom bão đạn. “Với thế hệ trẻ hôm nay, những dòng kênh “Chống Mỹ”, “Dân Quân” cũng có ý nghĩa vô cùng to lớn. Những địa danh đó hình thành bằng sự quy tụ sức đóng góp, bằng mồ hôi và xương máu của quân và dân Đầm Dơi nói riêng, Cà Mau nói chung với mục tiêu cao cả, góp phần làm nên thắng lợi to lớn giải phóng miền nam, thống nhất đất nước”, ông Nguyễn Chí Thiện bày tỏ.

Để ghi nhớ công sức một thời của tình cảm quân và dân chung tay đào kênh, những địa danh kênh “Chống Mỹ”, “Dân Quân” được giữ nguyên đến tận ngày nay. Một số ít trong số đó còn trở thành tên làng, tên xóm ở vùng thôn quê, như ấp Chống Mỹ A, Chống Mỹ B (xã Hàm Rồng, huyện Năm Căn); ấp Dân Quân (xã Việt Thắng, huyện Phú Tân)…

Qua bao năm đổi thay, những dòng kênh “Chống Mỹ” năm nào giờ đã thành trục giao thông huyết mạch tại địa phương. Mặt kênh giờ cũng to hơn khá nhiều do tác động của phương tiện giao thông đường thủy, gần như đóng vai trò một con sông. Dọc các dòng kênh ấy, hầu hết hiện nay cũng có giao thông đường bộ phát triển, có nơi còn lưu thông được cả ô-tô. Các vùng quê “Dân Quân”, “Chống Mỹ” giờ cũng không còn cảnh tan hoang bởi bom đạn. Nhân dân được chăm lo, tạo điều kiện có mô hình canh tác, sản xuất hiệu quả, làm giàu chính đáng trên luống cày, thửa ruộng quê nhà, con em được học hành có tương lai rộng mở…

“Nhờ tầm nhìn chiến lược và chỉ đạo đúng đắn của Tỉnh ủy, cộng với sự chung sức, chung lòng với ý chí quyết giành thắng lợi của quân và dân ta, chỉ trong vài năm (từ 1961-1965), trên bản đồ của địa phận Cà Mau đã có thêm một hệ thống kênh “Chống Mỹ” dài hàng trăm cây số, rút ngắn khoảng cách và thời gian đi lại bằng xuồng từ rừng đước Năm Căn về đến tận bên này của miệt rừng tràm U Minh Hạ. Kẻ địch có thừa bom đạn và các khí tài hiện đại nhưng vẫn không ngăn chặn được mạch lưu thông của những dòng kênh “Chống Mỹ”, góp phần giúp Cà Mau cùng với quân, dân cả nước làm nên thắng lợi lịch sử to lớn, thống nhất đất nước”, theo lời ông Hồ Trung Việt, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau.

Có thể bạn quan tâm

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.