Nhiều khu tái định cư ở Thái Nguyên không hiệu quả

Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên được giao làm chủ đầu tư tám dự án tái định cư trên địa bàn, thời gian thực hiện từ năm 2010 đến nay, số vốn đầu tư lên đến gần 200 tỷ đồng. Tuy nhiên, một số dự án không mang lại hiệu quả, gây lãng phí lớn nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, làm nhân dân bức xúc.

Nhiều hộ dân bỏ nhà tại khu tái định cư Văn Lăng để quay trở lại nơi ở cũ.
Nhiều hộ dân bỏ nhà tại khu tái định cư Văn Lăng để quay trở lại nơi ở cũ.

Sạt lở, dở dang

Với mục đích tốt đẹp là bố trí dân cư vùng bán ngập hồ Núi Cốc đến tái định cư để ổn định cuộc sống, cuối năm 2013, UBND Thái Nguyên giao cho Chi cục Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư xây dựng dự án tái định cư xã Vạn Thọ, huyện Đại Từ rộng hơn ba ha, số vốn đầu tư hơn 16 tỷ đồng, thời gian thực hiện từ năm 2015 đến 2017. Tuy nhiên, tính đến tháng 4-2016, dự án tái định cư thi công được khoảng gần 87% khối lượng xây lắp các hạng mục, trong đó hạng mục san nền đạt 92% khối lượng, hạng mục thoát nước đạt 71% khối lượng, cấp nước đạt 93% khối lượng; các hạng mục đường giao thông, nhà văn hóa và cấp điện đã hoàn thành và chủ đầu tư đã thanh toán 14 tỷ đồng thì xảy ra sạt trượt, lở ta-luy dương rất lớn, toàn bộ dự án phải dừng lại, dở dang từ đó đến nay.

UBND tỉnh Thái Nguyên đã giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan, thuê đơn vị tư vấn xác định nguyên nhân, xử lý trách nhiệm của các bên liên quan và đề xuất phương án khắc phục. Nguyên nhân được đưa ra là do đơn vị khảo sát, thiết kế xây dựng công trình chỉ thực hiện khoan điểm, kết hợp quan trắc địa chất và khoan vào mùa khô nên không lường hết được địa chất phức tạp của toàn bộ khu vực xây dựng dẫn đến không có biện pháp gia cố bền vững cho công trình, mà chỉ đưa ra phương án bạt mái ta-luy. Đơn vị tư vấn giám sát không có mặt thường xuyên tại công trình dẫn đến báo cáo chậm về diễn biến sạt lở. Đơn vị thẩm tra, thẩm định chuyên ngành xây dựng chưa lường hết mức độ phức tạp của địa hình, địa chất, thủy văn công trình nên không có yêu cầu đối với chủ đầu tư chỉ đạo đơn vị tư vấn thiết kế có phương án khảo sát, thiết kế cho phù hợp như xây kè, gia cố áp mái ta-luy dương kiên cố.

Chủ tịch UBND huyện Đại Từ Phạm Duy Hùng cho biết: “Mỗi khi hồ Núi Cốc tích nước, mực nước dâng lên, cuộc sống của gần 30 hộ ở vùng bán ngập rất khó khăn. Vì thế, khi Nhà nước đầu tư xây dựng khu tái định cư xã Vạn Thọ, người dân rất phấn khởi, nhưng xây dựng chưa xong thì xảy ra sạt lở. Chỉ khi nào thật an toàn chúng tôi mới cho chuyển dân đến khu tái định cư sinh sống”. Cuối năm 2016, các sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng đã đề xuất phương án khắc phục sạt lở. Đến nay UBND tỉnh Thái Nguyên chưa quyết định phương án nào, vì để khắc phục sạt lở, quy mô dự án sẽ tăng lên hàng chục tỷ đồng.

Chủ đầu tư là Chi cục Phát triển nông thôn có trách nhiệm lớn nhất đối với sự cố sạt lở, phải dừng thi công khu tái định cư xã Vạn Thọ hơn hai năm qua, gây lãng phí, bức xúc dư luận. Tuy nhiên, đến nay việc kiểm điểm trách nhiệm đối với chủ đầu tư và các bên liên quan dường như chưa được quan tâm.

Thiếu nước sinh hoạt

Dự án di dân vùng có nguy cơ sạt lở xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ cũng do Chi cục Phát triển nông thôn Thái Nguyên làm chủ đầu tư, có tổng số vốn đầu tư lên đến gần 44 tỷ đồng, tái định cư cho 60 hộ dân, suất đầu tư bình quân lên tới 733 triệu đồng/ hộ, được xây dựng từ năm 2016. Đến cuối tháng 6- 2018 mới có 45 hộ đến ở, nhưng sau đó một số hộ quay trở về nơi ở cũ. Đến đây, chúng tôi thấy khu tái định cư rất thiếu sức sống, một số hộ đã bỏ nhà tại khu tái định cư để quay trở về nơi ở cũ, số khác hằng ngày vẫn phải về nơi ở cũ canh tác rất vất vả. Nguyên nhân chủ yếu là do, diện tích đất được cấp tại khu tái định cư rất hẹp, không có đất để sản xuất, chăn nuôi, không phù hợp tập quán của đồng bào dân tộc Mông, đặc biệt là không có nước sinh hoạt.

Chi cục trưởng Phát triển nông thôn Thái Nguyên Nguyễn Văn Hợp lý giải: “Hệ thống cấp nước sinh hoạt là giếng khoan bơm lên bể chung để cấp nước cho các hộ dân. Các hộ dân phải đóng tiền điện để vận hành hệ thống cấp nước sinh hoạt. Nhưng khu tái định cư 100% là hộ dân tộc Mông nghèo, không có tiền đóng góp. Ngày 26- 7- 2018, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan đi kiểm tra công trình cho thấy máy bơm nước vẫn hoạt động, bể chung đủ nước cung cấp cho các hộ dân”. Tuy nhiên, các hộ dân ở khu tái định cư lại phản ánh, công trình cấp nước chỉ hoạt động được khoảng ba tháng rồi “đắp chiếu”. Trên thực tế, chúng tôi thấy nhiều hạng mục của công trình cấp nước đã hư hỏng dù thời gian đưa vào sử dụng chưa lâu. Hầu hết trụ vòi không còn nên thời gian qua các hộ phải mua sắm can nhựa để đi xin nước cách nhà hai km mang về nấu ăn, uống, còn tắm giặt thì phải xuống sông. Việc xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt bằng máy bơm điện là không hợp lý, không mang tính bền vững, vì người dân không có trình độ vận hành, bảo dưỡng, chi phí cao so với điều kiện kinh tế của cộng đồng, hư hỏng không có khả năng sửa chữa nên công trình được đầu tư tiền tỷ đã nhanh chóng “đắp chiếu”, lãng phí.

Mặc dù vẫn còn 15 hộ chưa chuyển đến khu tái định cư xã Văn Lăng, nhưng ta-luy dương ở khu vực này đã bị sạt lở, nếu không đầu tư khắc phục thì không thể bố trí dân cư vì nguy cơ mất an toàn rất lớn.

Người dân phải mua can nhựa chở nước về sinh hoạt hằng ngày.

Nhiều bất cập khác

Tổng số tiền mà Nhà nước đã đầu tư xây dựng tám dự án tái định cư trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ năm 2010 là gần 200 tỷ đồng, mục tiêu bố trí hơn 430 hộ dân ở vùng bán ngập hồ Núi Cốc, vùng có nguy cơ lũ ống, lũ quét, sạt lở... đến tái định cư nhưng đến nay mới bố trí được 331 hộ dân. Người dân mong muốn chuyển đến khu tái định cư sẽ có cuộc sống tốt hơn, nhưng trên thực tế thì ngược lại. Ở tất cả các khu tái định cư, diện tích đất ở cấp cho mỗi hộ rất ít, nơi rộng nhất từ 300-400 m²/hộ, có nơi chỉ từ 140- 170 m²/hộ. Với diện tích này thì chỉ đủ làm nhà ở, không có đất để sản xuất, chăn nuôi, thậm chí không có chỗ để làm công trình vệ sinh, không phù hợp lối sống, phong tục tập quán, phương án sản xuất của người dân. Điển hình là nhiều hộ chăn nuôi lợn, trâu, bò thì chất thải tràn ra chung quanh, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, làm những gia đình bên cạnh bức xúc.

Việc chọn vị trí xây dựng khu tái định cư cũng tỏ ra không phù hợp, như khu tái định cư xã Văn Lăng được xây dựng trên địa hình đồi núi; một số công trình được đầu tư xây dựng tại khu tái định cư chất lượng kém, hiệu quả thấp. Dư luận nhân dân, đặc biệt là nhiều người dân sinh sống tại các khu tái định cư đề nghị tỉnh Thái Nguyên cần thanh tra việc xây dựng, hiệu quả đầu tư của các khu tái định cư này, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân nếu có sai phạm nhằm tránh thất thoát, lãng phí. Qua đó, có giải pháp tích cực để ổn định cuộc sống lâu dài cho các hộ dân tại các khu tái định cư trên địa bàn.

Có thể bạn quan tâm

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.