Người chép sử của buôn làng

Một chiều mưa Đà Lạt, tôi gặp già làng Krajan Plin ở nơi khá đặc biệt là Bệnh viện tỉnh Lâm Đồng. Vợ ông, bà Cil Therese (sinh năm 1961, cùng tuổi với ông) chạy thận từ năm 2017. Vậy là những buổi chuyện trò về quá trình sưu tầm, lưu giữ luật tục và văn hóa dân gian của người K’Ho Lạch diễn ra trong không gian đầy mùi thuốc sát trùng cùng tiếng còi xe cứu thương.

Già Krajan Plin cùng vợ và cháu.
Già Krajan Plin cùng vợ và cháu.

Cần mẫn đưa lịch sử người K’Ho Lạch lên trang sách

Hơn 3 thập niên qua, già Krajan Plin đã dành rất nhiều thời gian, sức lực và tiền của để sưu tầm văn hóa cộng đồng K’Ho Lạch, đặc biệt là luật tục và văn học dân gian - những thứ lâu nay chỉ được lưu truyền trong trí nhớ của những nghệ nhân “chài pết gết đơêh” (hiểu biết thông thái) rồi truyền miệng từ đời này sang đời khác.

Năm 2010, Krajan Plin hoàn thành cuốn “Luật tục người K’Ho Lạch” gần 2.000 câu văn vần song ngữ K’Ho - Việt, gồm 419 nội dung liên quan đến ứng xử của con người với thần linh, thiên nhiên môi trường; mối quan hệ của con người trong gia đình, dòng tộc, cộng đồng: “Trên trời có thần linh/Giữa sông biển có cá/Trên trần gian có vua chúa/Buôn làng có tôi, có anh, có chị, có em”.

Krajan Plin lý giải, luật tục là kho tàng tri thức tổ chức quản lý cộng đồng của các tộc người, có ghi các quy định cả động viên và khen thưởng. Ngày nay, tổ chức tòa án phong tục không còn, tuy nhiên luật tục vẫn tồn tại trong gia đình và dòng họ, trong tâm thức của người bản địa. Nếu khéo léo vận dụng, luật tục vẫn phát huy những giá trị tích cực, nhân văn trong đời sống hiện đại.

Ông chia sẻ không tính được thời gian bản thân bỏ ra để thực hiện cuốn sách. Gặp ai hiểu biết là ông hỏi han, ghi chép. Có khi ông ghi trên ruộng rẫy, có khi ở nhà, có khi giữa bữa tiệc ồn ào. Phần tiếng K’Ho Lạch ông tham khảo các nghệ nhân, phần tiếng Việt ông cố gắng bám sát ngữ nghĩa, cách cảm chung của số đông đồng bào. Nhờ vậy, cuốn sách có giá trị không chỉ trong cộng đồng K’Ho mà còn với những người quan tâm, nghiên cứu.

Krajan Plin cùng một số nhà nghiên cứu khác cũng tham gia thực hiện cuốn “Văn hóa dân gian truyền thống của tộc người K’Ho” do nhà nghiên cứu Linh Nga Niê Kdăm chủ biên. Ngoài ra ông còn sáng tác nhiều tập thơ nhạc song ngữ về vùng đất Tây Nguyên và tộc người K’Ho. Hiện ông vẫn đang dịch từ tiếng K’Ho sang tiếng Việt, hệ thống hóa những tài liệu mà ông đã sưu tầm, ghi âm qua nhiều năm. Ông đã hoàn thành 13 tác phẩm có giá trị bảo tồn nghiên cứu cao như Thần Ndu tạo dựng trời đất (Yàng Ndu crơng trồ mờ Tiah), Nữ thần mặt trời (K’Srai tìm cha), Ding kon Bing, Du-Bot và Jiêng-Lòng, Tòng-Tàng kon Rơng, Dơs goong…

52.jpg
Sách của Già Krajan Plin đã xuất bản.

Tình yêu cộng đồng dẫn lối

Gia đình Krajan Plin có nhiều đời làm già làng. Ông cố Krajan Tot, ông nội Krajan Wan đều là già làng. Cha Liang Hot Ngheo đảm nhận chức vụ quan trọng về sắc tộc trong chính quyền hơn nửa thế kỷ trước. Đến lượt Krajan Plin trở thành già làng khi mới 39 tuổi. Theo cách nói trong luật tục K’Ho, thì ông chính là người được Yàng chọn: “Thần linh đánh dấu tùy từng người/Thần linh buộc khôn ngoan tùy từng người/Người được chọn chỉ được vài người”.

Già Krajan Plin vẫn còn đầy ắp những câu chuyện kể về buôn làng của ông khi còn ở hồ Đankia, về nhà mồ với những bức tượng gỗ canh giữ phía trước, về những ngôi nhà dài, những đêm khan quanh bếp lửa, về những buổi xử phạt theo tòa án phong tục. “Tới bây giờ tôi vẫn lưu giữ những văn bản ông nội kiện triều đình đòi quyền lợi cho buôn khi xây dựng nơi này thành thủy điện Ankroet, những dụng cụ xử án xưa, tư liệu của Trung tâm Sơn cước Cam Ly về người K’Ho. Nó giống như sứ mệnh của Yàng giao phó”, già bảo.

Krajan Plin học ở Trung tâm Sơn cước Cam Ly từ năm 7 tuổi. Tại đây ông được tiếp cận những tài liệu dịch thuật của thừa sai Marius Boutary cùng các cộng sự từ việc thu thập, ghi âm lời kể, điệu hát của các nghệ nhân trong những chuyến điền dã đến chân núi Lang Biang. Năm 12 tuổi, một lần về nhà ông hát cho mẹ nghe: “Trơ pông dôm lết ãn kờn sa sêl/Trơ pông dôm lết ãn kờn sa coòng”. Mẹ ông nói rằng, đó là những câu hát của dân tộc mình. “Đó là nền móng đầu tiên để sau này tôi theo cách đó mà tiếp tục sưu tầm”, ông nói.

Học ngành y, ông được phân công làm việc tại vùng rừng Đam Rông. Trong 10 năm (từ năm 1979 đến 1989), ông đã đi đến rất nhiều các buôn làng để cấp phát thuốc, điều tra dịch tễ. Những chuyến đi đem lại cho ông nhiều cơ hội hiểu sâu hơn về đời sống của các dân tộc, càng ý thức hơn về việc bảo tồn kho tàng văn hóa ấy.

Năm 1995, Krajan Plin bắt đầu thực hiện những chuyến điền dã đến các vùng sâu, xa của tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông (cũ) để gặp các nghệ nhân rồi thu âm, ghi chép những ký ức của họ. Đó là những truyện cổ, điệu hát, lời ru, những đêm khan bên bếp lửa. Ông đã thực hiện hàng trăm chuyến đi, gặp rất nhiều nghệ nhân, ghi âm hơn 100 băng cassette (loại băng dài 90 phút).

“Những cuộn băng đó là tài sản vô giá, vì rất nhiều nghệ nhân nay đã không còn. Nghe ở đâu có nghệ nhân biết hát kể truyện cổ là tôi lên đường. Có khi đi với anh em, có khi chỉ một mình. Có khi mất vài ngày mới tìm được, có khi chờ mãi không gặp phải đợi dịp quay lại. Có những nghệ nhân tôi theo họ từ năm này sang năm khác, từ vùng này sang vùng khác, theo sự chuyển dời nơi ở của họ”, ông nhớ lại.

Có vài kỷ niệm mà với ông là nhớ đời. Một lần ông nghe được tiếng tăm của một nghệ nhân gần 70 tuổi ở Phi Liêng (nay thuộc xã Đam Rông 1, Lâm Đồng). Ông liền tìm đến một người quen tên K’Chung ở gần đó để hỏi tung tích nghệ nhân kia. Tới khi được K’Chung dẫn tới gặp nghệ nhân kia, suốt buổi họ chỉ nghe được mấy bài dân ca quen thuộc. Tưởng như “xôi hỏng bỏng không”, nhưng chuyến đi đó Krajan Plin lại phát hiện ra chính người dẫn đường K’Chung mới là người am hiểu và biết nhiều truyện cổ, dù khi ấy anh mới 50 tuổi. “Từ đó tôi nghiệm ra, nghệ nhân phải có khả năng nghe, nhớ và kể lại một cách cảm xúc. Nó phụ thuộc vào năng khiếu chứ không phải tuổi tác”, ông nhận định.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Kranjan Plin không phải là già làng của bon Đăng Ya (nay thuộc bon Đưng, phường Lang Biang, Lâm Đồng), cũng không phải là nhạc sĩ, ca sĩ, nghệ nhân đa tài được nhiều người biết đến, mà là hình ảnh một người chồng tận tình chăm sóc vợ. Ông kể: “Gần chục năm nay tôi không đi đâu xa, không nhận lời mời lưu diễn, dành toàn bộ thời gian để phục vụ bà ấy”. Mỗi buổi ở bệnh viện, ông túc trực chờ xem vợ cần gì, xế chiều ông lái xe đến tiệm bánh mì bà Therese thích ăn, mua về cho vợ, cho những bệnh nhân khó khăn trong phòng, cho cả những người khuyết tật bán vé số.

Một lần khác, Krajan Plin gặp hai mẹ con ở Măng Lin (phường Lang Biang, Lâm Đồng), họ đóng vai hai nhân vật hát đối rất hay. Ông mừng quá, chắc mẩm đã có tư liệu quý. Nhưng khi về thì mới biết vì mải nghe hát mà quên bấm ghi âm, cuộn băng chỉ toàn băng trắng. Ông cũng quay lại đó nhiều lần nhưng không gặp được cả hai người cùng lúc. Sau này người con qua đời, người mẹ tuổi cao cũng không hát kể nữa. Đó là nỗi nuối tiếc lớn của ông.

Với những truyện cổ có nhiều phiên bản, Krajan Plin phải tìm nhiều nghệ nhân đối chiếu. Ông từng tranh cãi với cha mình về một truyện cổ được ông nội truyền lại, khi được một nữ nghệ nhân ở Phi Tô (nay là xã Nam Hà Lâm Hà, Lâm Đồng) hát kể phiên bản khác mà ông cho là hợp lý. “Sưu tầm văn hóa dân gian không chỉ là ghi chép mà đòi hỏi sự am hiểu nhất định về nguồn gốc câu chuyện và ngôn ngữ cổ, đặc biệt là thi ca, luật tục, theo lối diễn xướng bằng văn xuôi và những câu đối thoại giữa nhân vật với nhau bằng văn vần, mang đậm chất hình tượng hóa. Nếu chỉ nghe, dịch tiếng dễ bị ngộ nhận, hoặc suy diễn một cách chủ quan, tư duy theo lối hiện đại sẽ không đúng”, ông chia sẻ.

Rất ít cá nhân bỏ công sức thực hiện công việc sưu tầm văn hóa dân gian. Thường đó là các dự án cấp nhà nước, theo đề tài được đầu tư kinh phí lớn. Thế nhưng, già Krajan Plin bao năm qua vẫn một mình âm thầm làm những việc này. Ông tâm sự: “Nhờ tình yêu cộng đồng dẫn lối mà tôi bền bỉ đến nay. Bởi đó không chỉ là văn hóa mà là lịch sử của tộc người, tôi muốn lưu lại để cháu con nhớ về nguồn cội”.

Có thể bạn quan tâm

Nội dung tờ rơi đăng tuyển mà Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Era New yêu cầu nhân viên làm và đi phát tại các khu công nghiệp.

Sập bẫy mô hình lừa đảo: Người lao động lao đao (kỳ 1)

Chẳng yêu cầu bằng cấp, thậm chí không biết chữ vẫn đủ điều kiện đi làm với cam kết thu nhập hấp dẫn, giờ giấc linh hoạt, nhiều cơ hội thăng tiến cùng phúc lợi “ít nơi có”, những chiếc “bánh vẽ” liên tục được Công ty TNHH Thương mại dịch vụ Era New (phường Dĩ An, TP Hồ Chí Minh) tung ra để dẫn dụ người lao động vào một hệ thống lừa đảo có tổ chức.

Người dân Nhơn Hải có thêm sinh kế từ các dịch vụ du lịch biển.

Làng chài trong khúc quanh sinh kế (kỳ 1)

Du lịch đang làm đổi thay đời sống những làng chài ven biển Gia Lai. Người mua ca-nô chở khách, người mở homestay, nhà hàng; một phần cư dân chuyển sang làm dịch vụ sau nhiều năm gắn với nghề biển. Công việc mới đem lại nguồn thu, nhưng cũng kéo theo nhiều thay đổi trong nếp sinh hoạt của làng.

Những tiết học nghề dệt thổ cẩm tại Trường TH-THCS A Túc (xã Lìa, Quảng Trị).

Tiếng khung cửi ngân giữa sân trường biên giới

Tưởng chừng đến một ngày nào đó chỉ còn trong ký ức của những người già, tiếng khung cửi lại ngân lên giữa sân trường vùng biên giới xã Lìa (Quảng Trị). Những cô cậu học trò Pa Cô, Vân Kiều đang học cách đưa thoi, phối màu, “dệt” tiếp câu chuyện văn hóa của dân tộc mình.

Khoa và Thủy mong muốn Thư viện âm thanh Việt Nam sẽ được nhiều người biết đến, khai thác để lan tỏa câu chuyện văn hóa theo chất liệu rất riêng.

Nhặt "tiếng đời" qua những thanh âm

Từ những tệp âm thanh ban đầu thuần ngôn ngữ kỹ thuật phục vụ cho việc dựng phim, sau gần hai năm triển khai, thư viện cộng đồng của Trần Đăng Khoa và Đinh Vũ Thu Thủy (phường Phú Thọ Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh) đã lan tỏa nhiều câu chuyện văn hóa độc đáo theo cách rất riêng.

Cả nhà cùng ngồi hát then khi rảnh rỗi.

Nhịp then bốn thế hệ giữa đại ngàn

Giữa núi rừng, nơi dòng sông Năng cần mẫn chảy qua những bản Tày, căn nhà sàn của gia đình nghệ nhân dân gian Mã Văn Trực ở thôn Bản Hon, xã Phúc Lộc, tỉnh Thái Nguyên vẫn ngân vang tiếng đàn tính, lời then cổ mỗi độ chiều buông. Qua bốn thế hệ, “ngọn lửa” then nơi đây chưa từng ngắt quãng.

Anh Lê Quang Đảng gắn bó với thư pháp Việt tròn 20 năm.

Gieo duyên qua nét thư pháp Việt

Để lưu giữ nét đẹp của thư pháp Việt, nhà thư pháp Lê Quang Đảng (36 tuổi) cho rằng, viết một con chữ dựa trên cái tâm muốn làm chứ không vì tấm huy hiệu hay lời khen, mọi công đoạn đều trở nên nhẹ nhàng, tự nhiên như hơi thở. Viết thư pháp Việt là cách giúp anh Đảng kể lại từng câu chuyện sâu thẳm bên trong thế giới nội tâm.

Khung cảnh Ngải Thầu nhìn từ trên cao.

Hoa nở trên mũi đá Ma Cha Va

Tháng chín mùa thu, đang mùa lúa chín, Y Tý đẹp như miền cổ tích. Từ bản nhỏ Chi Chu Lìn, già làng Sùng A Lử, ngước đôi mắt xa xăm về phía vách đá Ngải Thầu. Vách đá nhô ra như chiếc mỏ con diều hâu khổng lồ, xòe đôi cánh lớn trùm lấy ngọn núi Ma Cha Va vòi vọi trên nền trời xanh thăm thẳm.

Con thuyền đưa chúng tôi ngược dòng Ô Lâu lên thượng nguồn.

Ô Lâu, dòng sông của những lời hẹn

Có lần, trong một buổi dừng chân bên đình Lương Điền, phía sau lũy tre làng bỗng vọng ra câu hát ru: “Trăm năm đành lỗi hẹn hò…”. Câu hát cũ đưa chúng tôi lần theo một dòng sông đã đi qua bao miền ký ức của đất Quảng Trị. Nhưng trước khi gặp cây đa, bến cộ (bến sông Ô Lâu), những cuộc tình và những thân phận đời người, chúng tôi ngược lên miền tây Hải Lăng, tìm về nơi những nhánh nước đầu tiên góp thành dòng Ô Lâu. Ở đó, dưới những cánh rừng còn mang dấu tích chiến tranh, có những người đã nằm lại và có những người vẫn miệt mài đi tìm nhau sau hơn nửa thế kỷ.

Chị Trương Thị Phượng và con gái chuẩn bị quần áo đem tặng.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Trở lại Kim Vân

Trở lại Kim Vân

Gần một năm kể từ trận lũ lịch sử tháng 10/2025, ở thôn Kim Vân (xã Văn Lang, tỉnh Thái Nguyên), ám ảnh về đợt thiên tai khủng khiếp vẫn còn đó. Nhưng trong sự thăng trầm của mảnh đất lòng chảo này, một hành trình hồi sinh đang diễn ra trên đồi Lũng Cậu, nơi đang khẩn trương thi công dự án khu tái định cư.

Du khách tham gia du lịch trải nghiệm tại khu sinh thái của vợ chồng Alex- Mai Dung.

Đôi vợ chồng Việt-Đức và thương hiệu Chocolate tương lai

Anh là Axel Krauss đến từ thành phố Quedlinburg ở miền bắc nước Đức. Chị là Lê Mai Dung, sinh ra tại cao nguyên Đà Lạt (Lâm Đồng). Họ đã chọn miền núi rừng xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) để tạo dựng một câu chuyện đẹp. Hòa hợp với rừng và cư dân rừng, đôi vợ chồng Việt-Đức ấy đã trở thành láng giềng, bạn bè và đối tác của đồng bào Cơ Ho, M'Nông địa phương từ nhiều năm nay…

Lê Minh Vũ (bên phải) tham gia công tác trọng tài Giải Yoga tỉnh Khánh Hòa 2026.

Vượt giới hạn cùng Yoga

Với kiện tướng Yoga cấp quốc gia Lê Minh Vũ (26 tuổi, trú phường Phú Xuân, thành phố Huế), Yoga là hành trình lắng nghe, thấu hiểu từng đổi thay của bản thân. Phía sau những kết quả anh Vũ đạt được là sự kiên trì trong luyện tập, sẵn sàng chinh phục từng cấp độ mới. Các tư thế Yoga uyển chuyển, mềm mại tạo cho Vũ một hướng đi khác biệt, chứa đựng sự đam mê đầy nghiêm túc.

Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Ảnh: QĐND

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004). Ảnh tư liệu của Kiều Mai Sơn

Bắc thành khởi nghĩa

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004) nguyên Trưởng ban Nông nghiệp Báo Nhân Dân, tham gia chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Bắc Ninh trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Cách mạng thành công, ông trở thành Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh. Một năm sau, trên báo Cứu quốc (Đặc san Cách mạng Tháng Tám phát hành ngày 19/8/1946), nhà báo Lưu Động đã ôn lại qua bút ký “Bắc thành khởi nghĩa”. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, chúng tôi trích đăng bài bút ký này. Tư liệu do cộng tác viên Kiều Mai Sơn cung cấp.

Cụ bà Nguyễn Thị Cúc.

Hồn tre trăm tuổi

​Tôi tìm đến căn nhà nhỏ nằm ẩn mình dưới bóng cây râm mát ở TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh) vào một buổi trưa nắng gắt phương nam. Trong căn nhà nhỏ xinh, bên chiếc bàn gỗ mộc, một cụ bà tóc bạc trắng, ngồi xe lăn, lưng đã còng nhưng ánh mắt vẫn tinh anh, đang cặm cụi dùng thước kẻ từng đường viền xanh lá trên trang giấy học trò. ​Đó là cụ Nguyễn Thị Cúc, phu nhân nhà ngoại giao Nguyễn Đức Quỳ (Đào Bình Luống), người vừa bước qua tuổi 100.

Bản Hà Lẹc nhìn từ trên cao.

Đổi thay khi nhà sàn đón... người lạ

Một buổi chiều đầu thu, mây từ đỉnh Trường Sơn đổ xuống bản Rum Ho (Kim Ngân, Quảng Trị), phủ mờ những mái nhà sàn nép mình bên triền núi. Tiếng suối len qua từng phiến đá, tiếng gió xào xạc trong tán cây và mùi khói bếp quyện vào hương rừng. Trong căn nhà sàn của mình, chị Hồ Thị Son lặng lẽ trải từng tấm đệm mới.

Tiết mục “Thiên thần đến từ Thiên hà” giành Vương miện Bạc tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026 diễn ra từ ngày 28/5 đến 31/5/2026 tại thành phố Saratov, Liên bang Nga.

Những thiên thần của thánh đường xiếc

Chỉ còn chưa đầy 5 tiếng nữa, tiết mục "Đu Ô" sẽ chính thức công diễn lần đầu tiên. Trong phòng tập của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, tiếng nhạc vẫn đều đều vang lên, xen lẫn những nhịp hô ngắn của huấn luyện viên và âm thanh của đạo cụ va chạm sau mỗi lần tiếp đất. Trên tấm thảm tập đã sờn màu, nữ nghệ sĩ Trần Thanh Hòa và NSƯT Thu Hương (Liên đoàn Xiếc Việt Nam) lặp đi lặp lại từng động tác. Một cú xoay chưa đủ đẹp lại làm lại từ đầu. Một nhịp bắt tay chưa thật khớp cũng phải thực hiện thêm nhiều lần.

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.