Cần mẫn đưa lịch sử người K’Ho Lạch lên trang sách
Hơn 3 thập niên qua, già Krajan Plin đã dành rất nhiều thời gian, sức lực và tiền của để sưu tầm văn hóa cộng đồng K’Ho Lạch, đặc biệt là luật tục và văn học dân gian - những thứ lâu nay chỉ được lưu truyền trong trí nhớ của những nghệ nhân “chài pết gết đơêh” (hiểu biết thông thái) rồi truyền miệng từ đời này sang đời khác.
Năm 2010, Krajan Plin hoàn thành cuốn “Luật tục người K’Ho Lạch” gần 2.000 câu văn vần song ngữ K’Ho - Việt, gồm 419 nội dung liên quan đến ứng xử của con người với thần linh, thiên nhiên môi trường; mối quan hệ của con người trong gia đình, dòng tộc, cộng đồng: “Trên trời có thần linh/Giữa sông biển có cá/Trên trần gian có vua chúa/Buôn làng có tôi, có anh, có chị, có em”.
Krajan Plin lý giải, luật tục là kho tàng tri thức tổ chức quản lý cộng đồng của các tộc người, có ghi các quy định cả động viên và khen thưởng. Ngày nay, tổ chức tòa án phong tục không còn, tuy nhiên luật tục vẫn tồn tại trong gia đình và dòng họ, trong tâm thức của người bản địa. Nếu khéo léo vận dụng, luật tục vẫn phát huy những giá trị tích cực, nhân văn trong đời sống hiện đại.
Ông chia sẻ không tính được thời gian bản thân bỏ ra để thực hiện cuốn sách. Gặp ai hiểu biết là ông hỏi han, ghi chép. Có khi ông ghi trên ruộng rẫy, có khi ở nhà, có khi giữa bữa tiệc ồn ào. Phần tiếng K’Ho Lạch ông tham khảo các nghệ nhân, phần tiếng Việt ông cố gắng bám sát ngữ nghĩa, cách cảm chung của số đông đồng bào. Nhờ vậy, cuốn sách có giá trị không chỉ trong cộng đồng K’Ho mà còn với những người quan tâm, nghiên cứu.
Krajan Plin cùng một số nhà nghiên cứu khác cũng tham gia thực hiện cuốn “Văn hóa dân gian truyền thống của tộc người K’Ho” do nhà nghiên cứu Linh Nga Niê Kdăm chủ biên. Ngoài ra ông còn sáng tác nhiều tập thơ nhạc song ngữ về vùng đất Tây Nguyên và tộc người K’Ho. Hiện ông vẫn đang dịch từ tiếng K’Ho sang tiếng Việt, hệ thống hóa những tài liệu mà ông đã sưu tầm, ghi âm qua nhiều năm. Ông đã hoàn thành 13 tác phẩm có giá trị bảo tồn nghiên cứu cao như Thần Ndu tạo dựng trời đất (Yàng Ndu crơng trồ mờ Tiah), Nữ thần mặt trời (K’Srai tìm cha), Ding kon Bing, Du-Bot và Jiêng-Lòng, Tòng-Tàng kon Rơng, Dơs goong…
Tình yêu cộng đồng dẫn lối
Gia đình Krajan Plin có nhiều đời làm già làng. Ông cố Krajan Tot, ông nội Krajan Wan đều là già làng. Cha Liang Hot Ngheo đảm nhận chức vụ quan trọng về sắc tộc trong chính quyền hơn nửa thế kỷ trước. Đến lượt Krajan Plin trở thành già làng khi mới 39 tuổi. Theo cách nói trong luật tục K’Ho, thì ông chính là người được Yàng chọn: “Thần linh đánh dấu tùy từng người/Thần linh buộc khôn ngoan tùy từng người/Người được chọn chỉ được vài người”.
Già Krajan Plin vẫn còn đầy ắp những câu chuyện kể về buôn làng của ông khi còn ở hồ Đankia, về nhà mồ với những bức tượng gỗ canh giữ phía trước, về những ngôi nhà dài, những đêm khan quanh bếp lửa, về những buổi xử phạt theo tòa án phong tục. “Tới bây giờ tôi vẫn lưu giữ những văn bản ông nội kiện triều đình đòi quyền lợi cho buôn khi xây dựng nơi này thành thủy điện Ankroet, những dụng cụ xử án xưa, tư liệu của Trung tâm Sơn cước Cam Ly về người K’Ho. Nó giống như sứ mệnh của Yàng giao phó”, già bảo.
Krajan Plin học ở Trung tâm Sơn cước Cam Ly từ năm 7 tuổi. Tại đây ông được tiếp cận những tài liệu dịch thuật của thừa sai Marius Boutary cùng các cộng sự từ việc thu thập, ghi âm lời kể, điệu hát của các nghệ nhân trong những chuyến điền dã đến chân núi Lang Biang. Năm 12 tuổi, một lần về nhà ông hát cho mẹ nghe: “Trơ pông dôm lết ãn kờn sa sêl/Trơ pông dôm lết ãn kờn sa coòng”. Mẹ ông nói rằng, đó là những câu hát của dân tộc mình. “Đó là nền móng đầu tiên để sau này tôi theo cách đó mà tiếp tục sưu tầm”, ông nói.
Học ngành y, ông được phân công làm việc tại vùng rừng Đam Rông. Trong 10 năm (từ năm 1979 đến 1989), ông đã đi đến rất nhiều các buôn làng để cấp phát thuốc, điều tra dịch tễ. Những chuyến đi đem lại cho ông nhiều cơ hội hiểu sâu hơn về đời sống của các dân tộc, càng ý thức hơn về việc bảo tồn kho tàng văn hóa ấy.
Năm 1995, Krajan Plin bắt đầu thực hiện những chuyến điền dã đến các vùng sâu, xa của tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông (cũ) để gặp các nghệ nhân rồi thu âm, ghi chép những ký ức của họ. Đó là những truyện cổ, điệu hát, lời ru, những đêm khan bên bếp lửa. Ông đã thực hiện hàng trăm chuyến đi, gặp rất nhiều nghệ nhân, ghi âm hơn 100 băng cassette (loại băng dài 90 phút).
“Những cuộn băng đó là tài sản vô giá, vì rất nhiều nghệ nhân nay đã không còn. Nghe ở đâu có nghệ nhân biết hát kể truyện cổ là tôi lên đường. Có khi đi với anh em, có khi chỉ một mình. Có khi mất vài ngày mới tìm được, có khi chờ mãi không gặp phải đợi dịp quay lại. Có những nghệ nhân tôi theo họ từ năm này sang năm khác, từ vùng này sang vùng khác, theo sự chuyển dời nơi ở của họ”, ông nhớ lại.
Có vài kỷ niệm mà với ông là nhớ đời. Một lần ông nghe được tiếng tăm của một nghệ nhân gần 70 tuổi ở Phi Liêng (nay thuộc xã Đam Rông 1, Lâm Đồng). Ông liền tìm đến một người quen tên K’Chung ở gần đó để hỏi tung tích nghệ nhân kia. Tới khi được K’Chung dẫn tới gặp nghệ nhân kia, suốt buổi họ chỉ nghe được mấy bài dân ca quen thuộc. Tưởng như “xôi hỏng bỏng không”, nhưng chuyến đi đó Krajan Plin lại phát hiện ra chính người dẫn đường K’Chung mới là người am hiểu và biết nhiều truyện cổ, dù khi ấy anh mới 50 tuổi. “Từ đó tôi nghiệm ra, nghệ nhân phải có khả năng nghe, nhớ và kể lại một cách cảm xúc. Nó phụ thuộc vào năng khiếu chứ không phải tuổi tác”, ông nhận định.
Ấn tượng đầu tiên của tôi về Kranjan Plin không phải là già làng của bon Đăng Ya (nay thuộc bon Đưng, phường Lang Biang, Lâm Đồng), cũng không phải là nhạc sĩ, ca sĩ, nghệ nhân đa tài được nhiều người biết đến, mà là hình ảnh một người chồng tận tình chăm sóc vợ. Ông kể: “Gần chục năm nay tôi không đi đâu xa, không nhận lời mời lưu diễn, dành toàn bộ thời gian để phục vụ bà ấy”. Mỗi buổi ở bệnh viện, ông túc trực chờ xem vợ cần gì, xế chiều ông lái xe đến tiệm bánh mì bà Therese thích ăn, mua về cho vợ, cho những bệnh nhân khó khăn trong phòng, cho cả những người khuyết tật bán vé số.
Một lần khác, Krajan Plin gặp hai mẹ con ở Măng Lin (phường Lang Biang, Lâm Đồng), họ đóng vai hai nhân vật hát đối rất hay. Ông mừng quá, chắc mẩm đã có tư liệu quý. Nhưng khi về thì mới biết vì mải nghe hát mà quên bấm ghi âm, cuộn băng chỉ toàn băng trắng. Ông cũng quay lại đó nhiều lần nhưng không gặp được cả hai người cùng lúc. Sau này người con qua đời, người mẹ tuổi cao cũng không hát kể nữa. Đó là nỗi nuối tiếc lớn của ông.
Với những truyện cổ có nhiều phiên bản, Krajan Plin phải tìm nhiều nghệ nhân đối chiếu. Ông từng tranh cãi với cha mình về một truyện cổ được ông nội truyền lại, khi được một nữ nghệ nhân ở Phi Tô (nay là xã Nam Hà Lâm Hà, Lâm Đồng) hát kể phiên bản khác mà ông cho là hợp lý. “Sưu tầm văn hóa dân gian không chỉ là ghi chép mà đòi hỏi sự am hiểu nhất định về nguồn gốc câu chuyện và ngôn ngữ cổ, đặc biệt là thi ca, luật tục, theo lối diễn xướng bằng văn xuôi và những câu đối thoại giữa nhân vật với nhau bằng văn vần, mang đậm chất hình tượng hóa. Nếu chỉ nghe, dịch tiếng dễ bị ngộ nhận, hoặc suy diễn một cách chủ quan, tư duy theo lối hiện đại sẽ không đúng”, ông chia sẻ.
Rất ít cá nhân bỏ công sức thực hiện công việc sưu tầm văn hóa dân gian. Thường đó là các dự án cấp nhà nước, theo đề tài được đầu tư kinh phí lớn. Thế nhưng, già Krajan Plin bao năm qua vẫn một mình âm thầm làm những việc này. Ông tâm sự: “Nhờ tình yêu cộng đồng dẫn lối mà tôi bền bỉ đến nay. Bởi đó không chỉ là văn hóa mà là lịch sử của tộc người, tôi muốn lưu lại để cháu con nhớ về nguồn cội”.