Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.
Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Kỹ sư chân đất

Sông Ninh Cơ không chỉ là tuyến giao thông nối sông Hồng với biển mà còn là khởi nguồn của một vùng quê giàu truyền thống văn hiến, làm nên đất học, đất văn với danh hương Hành Thiện và các làng nghề tinh xảo như làng mộc Hải Minh chuyên làm đồ gỗ mỹ nghệ, khảm trai; làng nghề kèn đồng Phạm Pháo và hàng chục làng nghề trồng hoa, cây cảnh nghệ thuật trứ danh.

Ở một khúc sông thuộc xã Xuân Trường, có một làng nghề đặc biệt. Người ta gọi đó là làng cơ khí Kiên Lao. Nói về Kiên Lao những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước, nhiều người nhớ nhất không phải sự giàu có, mà là sự cực nhọc. Cái nghèo đeo bám làng quê ven sông suốt nhiều năm. Đất ít, người đông. Làm ruộng không đủ sống. Chính trong khó khăn, người Kiên Lao bộc lộ một phẩm chất đặc biệt, đó là sự kiên cường và nhẫn nại đến lạ lùng.

Khoảng từ đầu thập niên 1990, công cuộc đổi mới lan sâu về nông thôn, nhu cầu cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp tăng nhanh. Đồng bằng Bắc Bộ khi ấy bắt đầu xuất hiện máy tuốt lúa, máy nghiền, máy xay xát và nhiều loại công cụ phục vụ nhà nông. Ở Kiên Lao lúc đó, một vài người đàn ông bắt đầu âm thầm mày mò chế tạo máy tuốt lúa. Họ không phải kỹ sư. Họ không có bằng cấp, thậm chí được học hành rất ít. Họ chỉ là người nông dân đã quen một nắng hai sương, lại là con chiên ngoan đạo, luôn nhớ lời Thánh Phao-lồ dạy trong Kinh Tân Ước: “Ai không chịu làm thì cũng đừng ăn”. Họ mày mò chế tạo máy tuốt lúa với niềm say mê khám phá và quyết tâm đổi đời.

Người trong vùng nhắc đến những cái tên như Nam, Việt, Thanh Tuyền, Trung… như những người mở lối cho nghề cơ khí Kiên Lao sau những năm đổi mới. Vì nghèo khó, nhiều người học dở dang từ nhỏ. Nhưng điều kỳ lạ là họ có một khả năng thực hành hiếm thấy. Chỉ nhìn máy là họ hiểu nguyên lý, tháo ra được, lắp lại được, rồi cải tiến được.

Những căn nhà nhỏ khi ấy trở thành xưởng cơ khí sơ khai. Không bản vẽ kỹ thuật chi tiết, không máy móc hiện đại. Chỉ có đe, búa, máy hàn và sự kiên nhẫn của những người nông dân không chịu chấp nhận cảnh nghèo. Ban ngày họ làm ruộng. Đêm đến, ánh lửa hàn lại xanh lên trong những căn xưởng chật hẹp. Hỏng thì sửa, sai thì làm lại. Có những chi tiết máy phải thử đi thử lại hàng chục lần. Có những chiếc máy tuốt lúa đầu tiên của Kiên Lao vừa chạy vừa rung bần bật. Nhưng rồi, máy vận hành ổn định hơn, khỏe hơn, tiện hơn.

Tiếng lành đồn xa. Người dân các huyện lân cận bắt đầu tìm đến Kiên Lao đặt mua máy. Có thời điểm, máy tuốt lúa được xem như một sản phẩm công nghệ của nông thôn Bắc Bộ. Muốn mua phải đặt trước, chờ đến lượt.

Từ vài xưởng nhỏ, nghề cơ khí lan ra cả làng. Một thế hệ người Kiên Lao bắt đầu lớn lên cùng tiếng búa thép.

52.jpg
Người dân Bát Xát, tỉnh Lào Cai vẫn sử dụng máy tuốt lúa của làng cơ khí Kiên Lao.

Những người đàn bà kéo xe

Khi làng nghề cơ khí phát triển, hàng hóa bắt đầu được đưa đi khắp nơi. Nhưng thời ấy xe tải hiếm, chỉ những đơn hàng đi xa mới chịu thuê xe vận chuyển. Còn các tỉnh gần, người dân chủ yếu kéo bộ. Những chiếc máy tuốt lúa nặng hàng tạ kéo bằng sức người trên những con đường quê. Từng nhóm người nối nhau đi từ sáng sớm đến tối mịt. Có chuyến kéo hàng sang tận Thái Bình, quãng đường hơn 20 km. Tiền công kéo hàng khoảng 20 nghìn đồng một máy, số tiền có thể khiến người thợ vận chuyển được xếp vào hàng khá giả. Từ đó, ngoài cánh thợ, còn có một lực lượng vận chuyển đông đảo, trong số ấy không ít là phụ nữ.

Bà Đinh Thị Nga là một trong những người đầu tiên làm nghề chở hàng thuê cho làng cơ khí. Người dân trong vùng thường gọi bà là “Mafia Nga”, bởi bà hay tranh phần cả những việc của trai tráng, đàn ông trong làng. Ban đầu, bà đi kéo bộ như những người khác. Sau dành dụm được chút tiền, bà chơi sang, “lên đời”, mua một chiếc xích-lô để chở hàng. Từ đó, trên những con đường làng ven Ninh Cơ, người ta thường thấy người phụ nữ nhỏ thó, nặng chưa đầy bốn chục cân, gò lưng đạp chiếc xích-lô chở vài tạ hàng cơ khí chất cao hơn đầu người. Bánh xe nghiến ken két trên đường. Mồ hôi chảy thành dòng trên khuôn mặt lam lũ. Bà chở máy, chở cả người. Có lần dân làng tròn mắt thấy bà Nga chở bốn “ông Tây” ngồi vắt vẻo trên thành xe xích-lô đi thăm thú trong làng. Nhiều nhà cũng theo bà, sắm xích-lô chuyên chở.

Đến giờ trong ký ức của nhiều người Kiên Lao, hình ảnh ấn tượng nhất có lẽ là những người phụ nữ đạp xích-lô chở sản phẩm cơ khí. Đó là một nghịch cảnh nhưng ở Kiên Lao, lại là hình ảnh quen thuộc của một thời. Những người phụ nữ ấy không than thân trách phận. Họ đạp xe như thể đang đạp qua cái đói, cái nghèo và sự bấp bênh của cuộc sống. Chính những đôi chân lam lũ ấy đã góp phần đẩy cả làng nghề đi lên.

Ở Kiên Lao, một người thợ hàn giỏi được kính trọng không kém người có bằng cấp cao. Những người cha từng học hành dang dở nay cố gắng cho con học kỹ thuật bài bản hơn mình. Từ những kỹ sư chân đất ngày nào, làng nghề đang dần hình thành một lớp kỹ sư thực thụ. Ngọn lửa cơ khí vì thế không tắt đi mà đang chuyển sang một hình hài mới.

Dòng sông của những người thợ

Sông Ninh Cơ mở ra cho Kiên Lao một cánh cửa lớn hơn, giao thương và nghề đóng tàu. Khi kinh tế phát triển hơn, ven sông bắt đầu xuất hiện các xưởng đóng tàu. Nghề hàn cơ khí của Kiên Lao từ sản xuất máy nông nghiệp dần chuyển sang đóng tàu, gia công kim loại, chế tạo thiết bị lớn.

Hàn tàu khác hẳn hàn dân dụng. Đó là công việc nặng nhọc, nguy hiểm và đòi hỏi tay nghề rất cao. Một đường hàn lỗi có thể ảnh hưởng đến cả con tàu. Nhưng người Kiên Lao học rất nhanh. Những chàng trai từng lớn lên trong tiếng máy tiện, mùi khói hàn và bụi sắt nhanh chóng trở thành thợ lành nghề.

Anh Phạm Văn Nhàn, xã Xuân Trường, tỉnh Ninh Bình là công nhân làm tại một cơ sở đóng tàu ven sông Ninh Cơ, chia sẻ: “Thợ giỏi hàn ở đây có thể đạt mức 700 nghìn đồng/ngày. Người mới học việc cũng có thu nhập đủ nuôi sống bản thân”. Quan trọng hơn, họ có nghề trong tay.

Từ làng quê ven sông, người Kiên Lao đi khắp nơi. Nhiều thanh niên sang Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) làm việc trong các nhà máy cơ khí. Các doanh nghiệp nước ngoài rất cần những lao động có tay nghề hàn, tiện, gia công kim loại tốt - thứ mà người Kiên Lao có được nhờ nhiều năm lao động thực tế. Có người đi vài năm rồi trở về mở xưởng. Có người trở thành chủ doanh nghiệp. Có người xây được nhà cho cha mẹ bằng chính đôi tay từng cầm mỏ hàn nóng bỏng.

Điều đặc biệt ở Kiên Lao là nghề cơ khí không chỉ tạo ra thu nhập. Nó tạo ra một căn tính nghề nghiệp. Nhiều thanh niên trong làng sau này đi học đều chọn ngành cơ khí, chế tạo máy, kỹ thuật. Có những người thi đỗ đại học ngành khác nhưng không nhập học. Họ chờ năm sau thi lại vào Đại học Bách khoa hoặc các trường kỹ thuật để nối nghiệp gia đình. Đó không phải lựa chọn nhất thời. Đó là niềm tin cha truyền con nối, rằng nghề cơ khí có thể nuôi sống con người bằng chính năng lực và sự chăm chỉ.

Chiều xuống trên sông Ninh Cơ. Mặt nước loang ánh hoàng hôn. Trong các xưởng ven sông, ánh lửa hàn lại bừng lên như những đốm lửa nhỏ giữa miền quê sôi động. Tiếng máy cắt thép vang lên không ngớt, như tiếng gọi của sự sáng tạo và hiện đại. Những người thợ trẻ cúi mình bên thân tàu. Có thể họ không biết nhiều về những năm tháng khó khăn của thế hệ trước, thời kéo bộ máy tuốt lúa hàng chục cây số, thời phụ nữ đạp xích-lô chở vài tạ hàng cơ khí, thời cả làng đỏ lửa suốt đêm chỉ để làm kịp một đơn hàng. Nhưng chính những năm tháng ấy đã tạo nên Kiên Lao hôm nay. Một làng quê không giàu lên nhờ may mắn, không đi lên bằng tài nguyên, càng không phải nhờ những dự án lớn lao. Kiên Lao đi lên bằng trí thông minh, bằng mồ hôi, sự nhẫn nại và đôi bàn tay của những người lao động đến tận cùng.

Giữa âm thanh chát chúa của thép và ánh lửa, người ta cảm nhận được sức sống bền bỉ của một làng quê ven sông đang từng ngày hiện thực hóa giấc mơ no ấm.

Có thể bạn quan tâm

Du khách tham gia du lịch trải nghiệm tại khu sinh thái của vợ chồng Alex- Mai Dung.

Đôi vợ chồng Việt-Đức và thương hiệu Chocolate tương lai

Anh là Axel Krauss đến từ thành phố Quedlinburg ở miền bắc nước Đức. Chị là Lê Mai Dung, sinh ra tại cao nguyên Đà Lạt (Lâm Đồng). Họ đã chọn miền núi rừng xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) để tạo dựng một câu chuyện đẹp. Hòa hợp với rừng và cư dân rừng, đôi vợ chồng Việt-Đức ấy đã trở thành láng giềng, bạn bè và đối tác của đồng bào Cơ Ho, M'Nông địa phương từ nhiều năm nay…

Lê Minh Vũ (bên phải) tham gia công tác trọng tài Giải Yoga tỉnh Khánh Hòa 2026.

Vượt giới hạn cùng Yoga

Với kiện tướng Yoga cấp quốc gia Lê Minh Vũ (26 tuổi, trú phường Phú Xuân, thành phố Huế), Yoga là hành trình lắng nghe, thấu hiểu từng đổi thay của bản thân. Phía sau những kết quả anh Vũ đạt được là sự kiên trì trong luyện tập, sẵn sàng chinh phục từng cấp độ mới. Các tư thế Yoga uyển chuyển, mềm mại tạo cho Vũ một hướng đi khác biệt, chứa đựng sự đam mê đầy nghiêm túc.

Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Ảnh: QĐND

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004). Ảnh tư liệu của Kiều Mai Sơn

Bắc thành khởi nghĩa

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004) nguyên Trưởng ban Nông nghiệp Báo Nhân Dân, tham gia chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Bắc Ninh trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Cách mạng thành công, ông trở thành Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh. Một năm sau, trên báo Cứu quốc (Đặc san Cách mạng Tháng Tám phát hành ngày 19/8/1946), nhà báo Lưu Động đã ôn lại qua bút ký “Bắc thành khởi nghĩa”. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, chúng tôi trích đăng bài bút ký này. Tư liệu do cộng tác viên Kiều Mai Sơn cung cấp.

Cụ bà Nguyễn Thị Cúc.

Hồn tre trăm tuổi

​Tôi tìm đến căn nhà nhỏ nằm ẩn mình dưới bóng cây râm mát ở TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh) vào một buổi trưa nắng gắt phương nam. Trong căn nhà nhỏ xinh, bên chiếc bàn gỗ mộc, một cụ bà tóc bạc trắng, ngồi xe lăn, lưng đã còng nhưng ánh mắt vẫn tinh anh, đang cặm cụi dùng thước kẻ từng đường viền xanh lá trên trang giấy học trò. ​Đó là cụ Nguyễn Thị Cúc, phu nhân nhà ngoại giao Nguyễn Đức Quỳ (Đào Bình Luống), người vừa bước qua tuổi 100.

Bản Hà Lẹc nhìn từ trên cao.

Đổi thay khi nhà sàn đón... người lạ

Một buổi chiều đầu thu, mây từ đỉnh Trường Sơn đổ xuống bản Rum Ho (Kim Ngân, Quảng Trị), phủ mờ những mái nhà sàn nép mình bên triền núi. Tiếng suối len qua từng phiến đá, tiếng gió xào xạc trong tán cây và mùi khói bếp quyện vào hương rừng. Trong căn nhà sàn của mình, chị Hồ Thị Son lặng lẽ trải từng tấm đệm mới.

Tiết mục “Thiên thần đến từ Thiên hà” giành Vương miện Bạc tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026 diễn ra từ ngày 28/5 đến 31/5/2026 tại thành phố Saratov, Liên bang Nga.

Những thiên thần của thánh đường xiếc

Chỉ còn chưa đầy 5 tiếng nữa, tiết mục "Đu Ô" sẽ chính thức công diễn lần đầu tiên. Trong phòng tập của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, tiếng nhạc vẫn đều đều vang lên, xen lẫn những nhịp hô ngắn của huấn luyện viên và âm thanh của đạo cụ va chạm sau mỗi lần tiếp đất. Trên tấm thảm tập đã sờn màu, nữ nghệ sĩ Trần Thanh Hòa và NSƯT Thu Hương (Liên đoàn Xiếc Việt Nam) lặp đi lặp lại từng động tác. Một cú xoay chưa đủ đẹp lại làm lại từ đầu. Một nhịp bắt tay chưa thật khớp cũng phải thực hiện thêm nhiều lần.

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.