Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (kỳ 2)

Kỳ 2: Âu lo truyền thừa

Ủ rượu cần từ các loại lá cây rừng.
Ủ rượu cần từ các loại lá cây rừng.

Bà Thị Dôn (xã Tân Hưng, TP Đồng Nai) kể vào những năm đầu đất nước thống nhất, gia đình bà vẫn có thói quen tự trồng bông kéo sợi và nhuộm màu tự nhiên để dệt vải. Nhưng tới đầu thập niên 80 thế kỷ trước, cái nghèo khiến những công đoạn dệt áo cầu kỳ trở thành xa xỉ. Những ruộng bông dần biến mất, nghề dệt thổ cẩm chững lại. Khung dệt chỉ thi thoảng được lấy ra làm những sản phẩm lặt vặt. Chính bà Dôn cũng dần xa rời khung cửi.

Bước qua những năm tháng thăng trầm, khi kinh tế khá lên, người S’tiêng giờ phải đối mặt với vấn đề khác trong việc gìn giữ văn hóa truyền thống.

Những tổ nhóm lặng lẽ

Mãi tới khoảng năm 2008, Thị Dôn mới thấy mẹ mang khung cửi ra để dệt một tấm chăn cho cháu. Lúc ấy, bà gọi Thị Dôn vào phụ giúp. Bà bảo con gái, bao năm khung cửi bỏ không, giờ bà muốn văn hóa của người S’tiêng tiếp tục được truyền đời, kể cả khi mẹ mất rồi thì những người con gái S’tiêng vẫn cần biết dệt vải. Lời ấy, Thị Dôn nhớ.

Bà Thị Dôn bắt đầu những sản phẩm dệt đầu tiên là những chiếc túi thổ cẩm nhỏ. Bà mang tới các nhà thờ ngày làm lễ. Chiếc túi có hoa văn hạt gạo và mái tóc người phụ nữ S’tiêng nhanh chóng thu hút sự chú ý của mọi người. Bà bắt đầu có các đơn hàng lẻ tẻ. Lúc ấy, Thị Dôn nhận ra, thổ cẩm không hề chết, chỉ cần có sản phẩm, nó có thể bán, có thể sống.

Năm 2010, tổ dệt ấp Lồ Ô (xã Tân Hưng) ra đời, với 35 chị em người S’tiêng, trong đó có hơn 10 người là những chị em cùng độ tuổi với bà Thị Dôn. Những đơn hàng đến thường xuyên hơn. Kể từ ấy, người phụ nữ S’tiêng đó tiếp tục mang sản phẩm thổ cẩm S’tiêng đi khắp chốn. Bà mang khăn tới các hội chợ ở Campuchia, Thái Lan, bà nhận cả đơn hàng sang Đan Mạch. Thứ làm nên thương hiệu của tổ dệt chính là những chiếc khăn màu sắc. “Đa phần người ta thích khăn, còn quần áo truyền thống bán được ít hơn. Mỗi tháng chúng tôi bán được khoảng 40-50 chiếc khăn, mỗi chiếc 200.000-300.000 đồng”, bà Thị Dôn chia sẻ.

Nhận thấy nguy cơ mai một của nghề dệt, Sở Công thương tỉnh Bình Phước cũ đã tạo điều kiện cho bà Dôn đi học lấy chứng chỉ sư phạm nghề để danh chính ngôn thuận giảng dạy. Từ đó, bà trực tiếp đứng lớp dạy 3 khóa học dệt thổ cẩm (một lớp ở huyện Bù Đăng cũ và hai lớp tại làng với quy mô từ 20 đến 25 học viên). Điều bà Dôn vui nhất là mấy lớp mới đã có nhiều học viên trẻ.

Trong cộng đồng S’tiêng, những tổ dệt như vậy không hiếm. Ở xã Tân Hưng hiện cũng có 3 tổ dệt đang hoạt động. Tổ dệt thổ cẩm - rượu cần xã Bom Bo do Điểu Thị Xia dẫn dắt cũng vẫn đều đặn làm và bán sản phẩm. Tổ của Xia hay của bà Dôn có thể coi như một đại diện cho mô hình bảo tồn chủ động, gắn chặt truyền thống với tư duy kinh tế thị trường.

Có điều, những kỹ thuật dệt phức tạp hầu như chỉ những người lớn tuổi còn làm. Điều nhận thấy rõ với người S’tiêng, là những thứ đang mai một không phải không giữ được, không phải không làm được, cũng không phải người ta không tha thiết, mà là theo đà của cuộc sống, mọi thứ cứ dần dần bị xem nhẹ đi. Thí dụ như kỹ thuật thêu hoa văn dích dắc, những họa tiết phức tạp, bà Dôn bảo nếu được dạy thì chỉ cần vài buổi là có thể biết. Tất nhiên để đẹp cũng cần đến thời gian và tài hoa, nhưng đó không phải kỹ thuật hoàn toàn thất truyền. Nghề này cần sự kiên trì. Lớp học của bà Dôn có nhiều bạn trẻ có năng khiếu, nhưng học xong rồi nhiều người lại bỏ đi làm công ty, bà Dôn tiếc lắm. Các tổ dệt vài chục người nhưng hoạt động thường xuyên thì chỉ có các thành viên đã U70-80. Ở tổ dệt ấp Lồ Ô, xã Tân Hưng, bà Thị Tiếc bảo, nếu xét tiền công thì đi mót mủ cao su được nhiều tiền hơn, nhưng bà thích tổ dệt và coi đó như một công việc lúc rảnh rỗi. Cứ tới độ 7 tới 9 giờ tối, là bà trải khung dệt, bắt đầu tỉ mỉ với từng đường chỉ. Hai - ba ngày bà xong một chiếc khăn, trừ tiền nguyên liệu 50 nghìn, bà Tiếc nhận về khoảng 150 nghìn đồng. Con gái bà cũng học dệt, cũng biết các kỹ thuật cơ bản. Nhưng một ngày cô đi làm từ 7 giờ sáng tới 11 giờ tối ở các công trường cao su, về tới nhà đã mệt nhoài, chỉ muốn ngủ. Những hoa văn phức tạp trên váy áo S’tiêng ngày xưa mà bà Tiếc thành thạo, giờ bà cũng không biết dạy ai nữa. Thu nhập từ mấy tấm vải thổ cẩm chưa đủ để kéo những người trẻ trải lại khung dệt.

Điểu Thị Xia cho chúng tôi xem một tấm vải cũ. Đó là một tấm vải đặc trưng của văn hóa S’tiêng với những hoa văn đại diện của dân tộc cô. Để may được nó, cái cần không chỉ là kỹ thuật, mà còn là thời gian, tâm huyết. Điều ấy, để duy trì được vào thời điểm này là rất khó.

52.jpg
Hoa văn thổ cẩm của người S'tiêng.

Vùng nguyên liệu thu hẹp

Sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên cùng sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã ảnh hưởng mạnh tới nguyên liệu thường dùng trong đời sống văn hóa truyền thống của người S’tiêng, tộc người vốn gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên núi rừng.

Rừng bé lại, khiến cho các loại vỏ, lá, rễ cây rừng dùng để nấu nước nhuộm sợi khó tìm hơn. Những nghệ nhân dệt cũng không biết đi đâu để tìm những thứ có thể nhuộm màu truyền thống. Vùng trồng bông biến mất, nên bây giờ việc trồng bông, tách hạt, se sợi cũng biến mất theo. Người ta chỉ có thể đặt mua hàng làm sẵn. Điểu Thị Xia bảo giờ quy trình xử lý bông và nhuộm màu cốt lõi ngày xưa nay hầu như không còn ai làm.

Với nghề đan gùi, vùng nguyên liệu còn bó hẹp hơn. Nguồn cung cây lồ ô và dây mây, vốn là các loại cây mọc hoang dại trong những cánh rừng nhiệt đới ẩm ướt, cũng bị suy giảm. Mặc dù thời gian gần đây đã có một số gia đình S'tiêng tự trồng thêm cây mây và lồ ô quanh nhà để chủ động nguyên liệu, nhưng quy mô và số lượng vẫn còn rất hạn chế. Ông Điểu Lúi, xã Tân Hưng, nói nhà ông vẫn còn trồng cây mây. Nhưng từng đó chỉ đủ cho một vài cái gùi chơi chơi thôi, “Còn vẫn phải đi mua”. Mà đặt mua, thì tiền nguyên liệu có khi quá cả tiền mua cái giỏ nhựa. Ông Điểu Lon A (xã Bom Bo) kể để đan được gùi, ông phải đặt mua nguyên liệu từ Biên Hòa, giá khoảng 30.000 một cây dây mây. Ở khu vực quanh nhà Điểu Lon A chỉ có ba người còn đan gùi. “Bọn trẻ sợ đứt tay chân không quen làm. Bây giờ còn các cháu, tôi bảo bố nó bày cho đan gùi, nhưng chính bố nó còn chả biết đan. Chỉ còn ông nội là tôi làm thôi”, ông buồn bã. “Giờ không ai làm cái gùi này nữa. Chắc tới lúc mình chết nghề bỏ luôn”.

Hoặc như kỹ thuật giã gạo chày tay, một tập tục đã làm nên huyền thoại cả trong văn hóa truyền thống lẫn lịch sử, cũng đang dần không còn ngay trên sóc Bom Bo nói riêng và trong cộng đồng S’tiêng nói chung. Xưa, một đêm người S’tiêng Bom Bo giã 5 tấn gạo nuôi quân, còn giờ, để nghe tiếng chày đôi chày ba chắc chỉ còn ở lễ hội và các buổi biểu diễn. Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước cũ (giờ là TP Đồng Nai), trong cộng đồng người S’tiêng, chỉ duy nhất đồng bào ở Bù Đăng (cũ) còn giữ được tập tục này trong đời sống nhưng quy mô nhỏ và không thường xuyên. Âu cũng là hệ quả của sự phát triển kinh tế, khi nương lúa phải nhường cho những cây công nghiệp mang lại giá trị kinh tế lớn hơn. Lúa nương không còn thì đâu còn cần giã gạo chày tay! Cả gỗ rừng và các nguyên liệu dùng để làm ra bộ dụng cụ giã gạo (bao gồm cối gỗ, chày gỗ, gùi, xá) cũng khó kiếm hơn. Ông Điểu Nôi bảo, ông cảm thấy gạo nương giã nứt ăn ngon hơn gạo xát máy. Nhưng bây giờ chính nhà ông cũng thi thoảng mới giã.

Đến ngay như việc nấu rượu, bà Thị Chanh (ấp 5, xã Tân Hưng) kể, tìm mấy loại cây rừng để lên men rượu cần cũ cũng phải 1-2 ngày. Xưa chỉ có đàn ông lên rừng tìm cây về cho đàn bà ủ rượu. Giờ huy động cả nhà đi tìm cũng khó tìm ra.

Điểu Thị Xia thì nói không lo đâu, những cây đó có thể trồng, có thể dựng lại được vùng nguyên liệu. Trong vườn nhà Xia vẫn có một vài cây bông, Xia giữ để thi thoảng giới thiệu cho những người mặn mà với truyền thống văn hóa S'tiêng. “Nếu có đầu ra, thì gây dựng lại vùng trồng bông không khó”, nàng Điểu Nhíp hiện đại khẳng định chắc nịch. Cả những loài cây để nấu rượu, cây mây để đan gùi, Xia đều thử trồng rồi, đều sống dễ. Nhưng mà làm sao để mở rộng nó, làm sao để nhiều người biết đến sản phẩm của người S’tiêng hơn thì chính Xia cũng đang băn khoăn.

(Còn nữa)

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (kỳ 1)

Có thể bạn quan tâm

Ông Phạm Hữu Phụ và Thượng úy Lê Sỹ Vũ ở thôn Đoàn Kết.

Người ở nông trường, người ra biên giới vùng biên Tây Nam (kỳ 1)

Tuyến biên giới phía Tây Nam tiếp giáp giữa Việt Nam và Campuchia giữ vị trí chiến lược đặc biệt trọng yếu đối với quốc phòng, an ninh quốc gia. Thế nhưng do yếu tố lịch sử cùng điều kiện địa hình phức tạp, nhiều đoạn biên giới dài trong nhiều năm gần như vắng bóng người dân sinh sống ổn định. Đầu tháng 4 năm 2019, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 chính thức khởi xướng và triển khai Đề án Xây dựng điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới, đồn, trạm biên phòng (thường được biết đến với tên gọi Đề án 811). Đó là bước ngoặt chiến lược đưa dân ra lập ấp, đưa các dải biên cương thành thế trận biên phòng toàn dân vững chắc. Nhưng những câu chuyện vùng biên, không chỉ nằm ở một đề án.

Anh Lê Quang Đảng gắn bó với thư pháp Việt tròn 20 năm.

Gieo duyên qua nét thư pháp Việt

Để lưu giữ nét đẹp của thư pháp Việt, nhà thư pháp Lê Quang Đảng (36 tuổi) cho rằng, viết một con chữ dựa trên cái tâm muốn làm chứ không vì tấm huy hiệu hay lời khen, mọi công đoạn đều trở nên nhẹ nhàng, tự nhiên như hơi thở. Viết thư pháp Việt là cách giúp anh Đảng kể lại từng câu chuyện sâu thẳm bên trong thế giới nội tâm.

Khung cảnh Ngải Thầu nhìn từ trên cao.

Hoa nở trên mũi đá Ma Cha Va

Tháng chín mùa thu, đang mùa lúa chín, Y Tý đẹp như miền cổ tích. Từ bản nhỏ Chi Chu Lìn, già làng Sùng A Lử, ngước đôi mắt xa xăm về phía vách đá Ngải Thầu. Vách đá nhô ra như chiếc mỏ con diều hâu khổng lồ, xòe đôi cánh lớn trùm lấy ngọn núi Ma Cha Va vòi vọi trên nền trời xanh thăm thẳm.

Con thuyền đưa chúng tôi ngược dòng Ô Lâu lên thượng nguồn.

Ô Lâu, dòng sông của những lời hẹn

Có lần, trong một buổi dừng chân bên đình Lương Điền, phía sau lũy tre làng bỗng vọng ra câu hát ru: “Trăm năm đành lỗi hẹn hò…”. Câu hát cũ đưa chúng tôi lần theo một dòng sông đã đi qua bao miền ký ức của đất Quảng Trị. Nhưng trước khi gặp cây đa, bến cộ (bến sông Ô Lâu), những cuộc tình và những thân phận đời người, chúng tôi ngược lên miền tây Hải Lăng, tìm về nơi những nhánh nước đầu tiên góp thành dòng Ô Lâu. Ở đó, dưới những cánh rừng còn mang dấu tích chiến tranh, có những người đã nằm lại và có những người vẫn miệt mài đi tìm nhau sau hơn nửa thế kỷ.

Chị Trương Thị Phượng và con gái chuẩn bị quần áo đem tặng.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Trở lại Kim Vân

Trở lại Kim Vân

Gần một năm kể từ trận lũ lịch sử tháng 10/2025, ở thôn Kim Vân (xã Văn Lang, tỉnh Thái Nguyên), ám ảnh về đợt thiên tai khủng khiếp vẫn còn đó. Nhưng trong sự thăng trầm của mảnh đất lòng chảo này, một hành trình hồi sinh đang diễn ra trên đồi Lũng Cậu, nơi đang khẩn trương thi công dự án khu tái định cư.

Du khách tham gia du lịch trải nghiệm tại khu sinh thái của vợ chồng Alex- Mai Dung.

Đôi vợ chồng Việt-Đức và thương hiệu Chocolate tương lai

Anh là Axel Krauss đến từ thành phố Quedlinburg ở miền bắc nước Đức. Chị là Lê Mai Dung, sinh ra tại cao nguyên Đà Lạt (Lâm Đồng). Họ đã chọn miền núi rừng xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) để tạo dựng một câu chuyện đẹp. Hòa hợp với rừng và cư dân rừng, đôi vợ chồng Việt-Đức ấy đã trở thành láng giềng, bạn bè và đối tác của đồng bào Cơ Ho, M'Nông địa phương từ nhiều năm nay…

Lê Minh Vũ (bên phải) tham gia công tác trọng tài Giải Yoga tỉnh Khánh Hòa 2026.

Vượt giới hạn cùng Yoga

Với kiện tướng Yoga cấp quốc gia Lê Minh Vũ (26 tuổi, trú phường Phú Xuân, thành phố Huế), Yoga là hành trình lắng nghe, thấu hiểu từng đổi thay của bản thân. Phía sau những kết quả anh Vũ đạt được là sự kiên trì trong luyện tập, sẵn sàng chinh phục từng cấp độ mới. Các tư thế Yoga uyển chuyển, mềm mại tạo cho Vũ một hướng đi khác biệt, chứa đựng sự đam mê đầy nghiêm túc.

Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Ảnh: QĐND

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004). Ảnh tư liệu của Kiều Mai Sơn

Bắc thành khởi nghĩa

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004) nguyên Trưởng ban Nông nghiệp Báo Nhân Dân, tham gia chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Bắc Ninh trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Cách mạng thành công, ông trở thành Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh. Một năm sau, trên báo Cứu quốc (Đặc san Cách mạng Tháng Tám phát hành ngày 19/8/1946), nhà báo Lưu Động đã ôn lại qua bút ký “Bắc thành khởi nghĩa”. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, chúng tôi trích đăng bài bút ký này. Tư liệu do cộng tác viên Kiều Mai Sơn cung cấp.

Cụ bà Nguyễn Thị Cúc.

Hồn tre trăm tuổi

​Tôi tìm đến căn nhà nhỏ nằm ẩn mình dưới bóng cây râm mát ở TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh) vào một buổi trưa nắng gắt phương nam. Trong căn nhà nhỏ xinh, bên chiếc bàn gỗ mộc, một cụ bà tóc bạc trắng, ngồi xe lăn, lưng đã còng nhưng ánh mắt vẫn tinh anh, đang cặm cụi dùng thước kẻ từng đường viền xanh lá trên trang giấy học trò. ​Đó là cụ Nguyễn Thị Cúc, phu nhân nhà ngoại giao Nguyễn Đức Quỳ (Đào Bình Luống), người vừa bước qua tuổi 100.

Bản Hà Lẹc nhìn từ trên cao.

Đổi thay khi nhà sàn đón... người lạ

Một buổi chiều đầu thu, mây từ đỉnh Trường Sơn đổ xuống bản Rum Ho (Kim Ngân, Quảng Trị), phủ mờ những mái nhà sàn nép mình bên triền núi. Tiếng suối len qua từng phiến đá, tiếng gió xào xạc trong tán cây và mùi khói bếp quyện vào hương rừng. Trong căn nhà sàn của mình, chị Hồ Thị Son lặng lẽ trải từng tấm đệm mới.

Tiết mục “Thiên thần đến từ Thiên hà” giành Vương miện Bạc tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026 diễn ra từ ngày 28/5 đến 31/5/2026 tại thành phố Saratov, Liên bang Nga.

Những thiên thần của thánh đường xiếc

Chỉ còn chưa đầy 5 tiếng nữa, tiết mục "Đu Ô" sẽ chính thức công diễn lần đầu tiên. Trong phòng tập của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, tiếng nhạc vẫn đều đều vang lên, xen lẫn những nhịp hô ngắn của huấn luyện viên và âm thanh của đạo cụ va chạm sau mỗi lần tiếp đất. Trên tấm thảm tập đã sờn màu, nữ nghệ sĩ Trần Thanh Hòa và NSƯT Thu Hương (Liên đoàn Xiếc Việt Nam) lặp đi lặp lại từng động tác. Một cú xoay chưa đủ đẹp lại làm lại từ đầu. Một nhịp bắt tay chưa thật khớp cũng phải thực hiện thêm nhiều lần.

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.