“Giảng viên nông dân” lai tạo gần... 60 giống lúa

Ông Hoa Sĩ Hiền ở xã Tân An, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang gầy nhom, tóc xuề xòa, trông già trước tuổi, nhưng rất lanh lẹ, hoạt bát. 20 năm nghiên cứu miệt mài trong phòng thí nghiệm ngay bên hông nhà giữa đồng lúa, ông Hoa Sĩ Hiền đã lai tạo được gần 60 giống lúa có những ưu điểm vượt trội như: TC2, TC 7, SH 50, SH 51… và giống đạt chuẩn quốc gia. 

Ông Hoa Sĩ Hiền thường xuyên có mặt trên cánh đồng.
Ông Hoa Sĩ Hiền thường xuyên có mặt trên cánh đồng.

“Giảng viên” tốt nghiệp lớp… 6!

Ông Hiền đã bỏ ra nhiều công sức và tiền bạc để phục tráng các loại lúa cổ truyền và lai tạo các loại giống mới. Đáng nói là người nông dân 53 tuổi này từng bỏ ngang chuyện học ở lớp 6 trường làng và từng phải đi sửa dạo đồng hồ để mưu sinh trong một gia đình khốn khó. Hồi Tết năm nay, ông Hoa Sĩ Hiền chỉ lo công việc từ bàn nghiên cứu đến ruộng đồng và ăn Tết ngay trên ruộng lúa. Rồi dạy sinh viên (SV) nghiên cứu cây lúa ngay trên đồng ruộng. 

Đó cũng là điều mà ông Hiền tâm huyết nhất. Ông đang ngày đêm dạy thực hành miễn phí trên cây lúa cho hàng trăm SV từ các Trường Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, ĐH Cần Thơ, ĐH An Giang… rải rác quanh năm. Ông xây dựng từ khá lâu, một phòng thí nghiệm 17 m2 mà các GS, TS nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đều thừa nhận là đủ chuẩn, thường xuyên rộng cửa đón SV đến khảo nghiệm về lúa. Ruộng lúa này ông Hoa Sĩ Hiền có được từ khoản tiền vợ chồng ông chắt chiu gần nửa đời người làm lụng đủ nghề sinh nhai, để đầu tư vào một nghề mới mà ông nói chết cũng không buông dù không sinh lời. Vợ ông buôn bán nhỏ, quản lý 14 nghìn m2 ruộng nên lo đủ cho gia đình, để chồng toàn tâm toàn lực nghiên cứu.

Ông Hiền vui chuyện kể, có những công ty lớn đến hỏi mua độc quyền sản xuất thương mại các giống lúa TC, viết tắt của địa danh Tân Châu với giá 3 - 4 lượng vàng, nhưng ông từ chối ngay vì ông muốn dành những giống lúa tốt nhất cho nông dân, cho cộng đồng. Vậy là hàng chục giống lúa do ông Hiền lai tạo đã được ông trao tặng các viện nghiên cứu và các nơi lưu trữ giống lúa. Trong số đó, TC 2 được công nhận đạt chuẩn và được đưa vào ngân hàng giống quốc gia.

Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) từng tặng ông Hiền giấy chứng nhận “Người có thành tích xuất sắc trong di truyền học”. Ông Hiền nổi tiếng còn vì rất nỗ lực tự học, tự đọc nhiều tài liệu nghiên cứu mới nhất về cây lúa. Trong gần 60 giống lúa lai tạo của ông Hiền, TC 26, TC 30 cho gạo thơm dẻo; TC 21 chú trọng năng suất; SH 33, SH 34 hạt dài thích ứng với hạn mặn; đặc biệt ông Hoa Sĩ Hiền đã lai tạo thành công giống lúa chịu mặn TC 7, chịu phèn TC 6… 

Từ nhiều năm qua, căn chòi và phòng thí nghiệm của ông Hiền, viện lúa ĐBSCL thu nhỏ, là nơi học tập, nghỉ ngơi và thực nghiệm lai tạo giống của nhiều nghìn lượt SV, học sinh, các chuyên gia trong và ngoài nước. Một tay phấn trắng, một tay bảng đen, ông Hiền đã phác thảo mô hình lai lúa giống chịu mặn tốt của mình cho sinh viên nhiều thế hệ nghiên cứu cây lúa chịu đựng được biến đổi khí hậu. 

 Hôm chúng tôi xuống thăm mới đây, thấy các SV Minh Nghĩa, Trung Thạnh… ngành khoa học cây trồng, ĐH An Giang đang rất chăm chú nghe ông Hiền giảng giải về hai cái chậu được vẽ trên bảng đen, một cái chậu có bụi lúa mà tên khoa học là Oryza Rufipogon, hai là chậu đựng nước được ông điều chỉnh nồng độ mặn 1 - 3 phần nghìn. Rồi ông giảng miệt mài cho SV về quy trình tổ hợp lai giống lúa chịu mặn đặc biệt của ông. SV Minh Nghĩa hào hứng kể: “Thầy Hiền rất tỉ mẩn trong việc hướng dẫn chúng em nghiên cứu rất kỹ về đủ loại cây lúa với thái độ làm việc cần mẫn và chu tất như các GS, TS giỏi ở trường ĐH của chúng em vậy”.
 
Ông Hiền cùng các SV đưa chúng tôi ra thăm bốn công lúa ông đang trồng khảo nghiệm, giảng giải trực tiếp rất cặn kẽ cho từng câu hỏi liên tục của các SV viên chuyên ngành về cây lúa. Mảnh ruộng bốn công được phân ra 20 luống gieo trồng 20 loại lúa. Mỗi loại gieo sạ cách nhau 7 - 10 ngày để tránh thụ phấn chéo, trong đó có giống lúa TC 7 và giống lúa mới SH 51 và SH 50, lúa tím than có đặc tính thảo dược, tốt cho tim mạch và trẻ hóa tế bào con người. Ông Hiền tâm sự về chuyến đi thực tập này: “Tui đã đưa các em đi tham khảo thật kỹ lưỡng quá trình sản xuất lúa, kiên nhẫn từng khâu một. Xong xuôi, tôi cùng các em kiểm tra kỹ chất đất để trả lời câu hỏi đất nào trồng được, đất nào không trồng lúa được. Rồi tui mới chỉ tận tay các em quy trình lai lúa”.

“Điều tuyệt vời nữa là ông Hiền đang cống hiến hết mình để giúp các trường ĐH rèn giũa thực hành trên cây lúa cho bao thế hệ SV, nghiên cứu sinh đang tìm đến”, ông Philippe Du Mor, chuyên gia về cây lúa người Thái-lan, nhận xét với người viết trên ruộng lúa của ông Sĩ Hiền. 

Chỉ muốn phụng sự hết mình

Cách đây chục năm, ông Hiền đã suy nghĩ tích cực: “Không đẩy lùi được hạn mặn thì mình phải thích nghi với hạn mặn”. Với quan điểm này, ông Hiền quyết tâm bắt tay vào nghiên cứu khoa học, tạo nhiều giống chịu mặn tốt mà ĐBSCL chưa từng biết đến.

Khởi đầu là năm 2004, ông Hiền được chọn đi tập huấn kỹ năng chọn giống cộng đồng do Trường ĐH Cần Thơ tổ chức. Ngay cuối năm, ông Hiền đã thành công nhanh chóng khi tạo ra một giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, kháng được một số bệnh. Đáng trân quý là bất kỳ nông dân nào cũng có thể gọi điện hàng giờ cho ông Hiền, “tâm sự” về cây lúa. Ai xin lúa giống vừa lai tạo, ông bọc kỹ vài kg gởi qua đường bưu điện trao tặng.

Rồi ông Hiền cất công tìm khắp nơi thu gom, tìm tòi lúa ma, lúa cỏ, lúa trời, chim rơi, rẽ hành, tép trắng, tây đùng, chẹt cụt, hồng vân… đem về ngày đêm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Ông tỉ mẩn nghiên cứu đặc tính của nhiều loại giống và đem các loại giống lai tạo với nhau theo tổ hợp suốt nhiều tháng. Ông còn mua muối về đổ vào ruộng để thí nghiệm thật sát thực tế. Ông tâm sự với chúng tôi: “Nghiên cứu được bao nhiêu giống lúa, tui đều tự mình gởi xuống Viện lúa ĐBSCL ở Cần Thơ lưu trữ nguồn gien. Tui tặng tất thảy cho Nhà nước và như thế cũng đã trọn niềm vui rồi phải không nhà báo?”. Bà Võ Thị Năm, nông dân ở Tân Châu, nói với tôi: “Chú Hiền cho đi những giống lúa chú lai tạo và chỉ dạy kiến thức cho SV, cho nông dân mà chẳng đòi đồng nào. Mong sao chú duy trì việc này để có thêm thế hệ trẻ lai tạo giống lúa mới giúp bà con nông dân thì hay biết mấy”.

PGS, TS Trương Trọng Ngôn, Viện Công nghệ sinh học, ĐH Cần Thơ, đánh giá: “Chuyện nông dân làm khoa học ở nước ta vốn chẳng hiếm hoi gì. Nhưng một nông dân chưa quá lớp 6 trường làng như ông Hiền mà lai tạo ra được gần 60 giống lúa chất lượng cao thì không phải là chuyện thường, là việc không thể làm được nếu không có thực tài thiên phú và thiếu đi niềm đam mê cháy bỏng với cây lúa trên quê hương yêu dấu của chính mình!”.

Có nhiều doanh nghiệp xin nhượng quyền tác giả hay mời ông Hoa Sĩ Hiền về làm cho doanh nghiệp kinh doanh giống lúa, nhưng ông đều lắc đầu từ chối bởi với người đàn ông gầy gò này, niềm đam mê lớn nhất là lai tạo được ra các giống lúa mới, khắc phục được nhược điểm, ít lệ thuộc vào hóa chất. Ông chỉ muốn làm việc hết mình để phụng sự việc nghiên cứu của SV, nông dân về những giống lúa tốt nhất. Và để tiến nhanh hơn, ông hy vọng được trợ giúp hiệu quả, thiết thực của các GS, TS giỏi chuyên về lúa giống của Việt Nam trong thời gian tới.

Có lần, vào lúc nửa đêm, ông Hiền ra ruộng để lai giống từ cây lúa ma trổ - loại lúa chỉ trổ vào đêm khuya, xỉu ngay trên ruộng lúa. Đứa con ngủ trong chòi thấy ánh sáng từ cây đèn chổng lên trời nên chạy ra cứu kịp.

Ông Hiền từng được trao hai bằng khen của Trung ương, 13 bằng khen cấp tỉnh và được mời ra Hà Nội dự lễ tuyên dương về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Có thể bạn quan tâm

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.