1/Trên bản đồ Đà Bắc, xóm Sưng có dáng một con thuyền rất cân đối, bồng bềnh giữa biển mây, là nơi sinh sống của hơn 70 hộ gia đình Dao Tiền. Đón chúng tôi là ông Đặng Văn Xuân, người trong xóm gọi bằng tên dân tộc: ông là Yao-Ki, vợ ông là bà Ki. Đang mùa cưới, nhà ông vừa tổ chức cho con gái, dấu ấn niềm vui thể hiện qua từng khung ảnh lứa đôi treo giữa nhà. Ông hồ hởi khoe, con gái cũng nên duyên với người Dao Tiền, mang về nhà chồng những 15 đôi váy, chục đôi áo và rất nhiều khăn. Phụ nữ Dao Tiền sẽ mặc suốt cuộc đời.
Bắc ngang hai gốc mận già nua, mốc thếch địa y đang đơm hoa trắng là những cây sào tre hong vải chàm. Mầu chàm thẫm xanh điểm xuyết giữa những nong sắn, vạt ngô phơi khô. Ở đây, nhà nào cũng giữ được nghề thủ công nhuộm vải chàm. Con gái xóm Sưng học nhuộm vải, thêu thùa rất sớm. Lâu dần, nếu chỉ ở bản đi nương, nhuộm vải, lấy chồng, mầu chàm sẽ in mãi trên tay, như bàn tay các cụ bà vừa ấm áp chạm vào tay khách lạ.
Thổ cẩm Dao Tiền độc đáo ở cách thức in sáp ong. Tổ ong sau khi tách mật được cho vào nước đun sôi, gạn lọc lấy phần trong, cầu kỳ cô đặc rồi để nguội, thành phẩm là khối sáp mượt mà, vàng óng tựa mỡ gà. Công cụ in khá thô sơ. Một thanh cật cây trúc vót mỏng, uốn thành khung nhỏ, thêm cái ống nứa tròn tròn đựng sáp, thập tô bằng đồng có vai trò như cây bút chấm sáp để in. Nhất thiết không thiếu được lá chít khô làm thước kẻ để tạo hình thoi, hình vuông trên thổ cẩm. Chỉ có loại lá này mới ngăn nổi sáp ong không thấm ra vải. In xong hoa văn, sẽ lại tỉ mỉ phủ lượt sáp mỏng mảnh, đều đặn nữa lên toàn bộ vùng có hoa văn để các họa tiết ấy giữ nguyên vẹn trong khi đem vải đi nhuộm chàm. Loài cây thân cỏ, hoa mầu tím nhạt, mọc rải rác trong rừng được gọi là cây chàm. Tìm được, phải chặt tận gốc mang về ngâm nước, ủ kín vài ngày cho cây nhả hết sắc chàm vào nước. Còn rất nhiều công đoạn nữa, khuấy đều tay, trộn thêm nguyên liệu, chắt lọc, ủ sâu cả tuần cùng nước gio bí truyền giúp vải giữ mầu sau khi nhuộm.
Nhuộm vào vải rồi, đều đặn hong phơi, nhuộm lại cho tới khi đều mầu, mảnh vải xốp dịu trượt nhẹ được trên tay thì vừa độ. Sau cùng, vải được nhúng nước sôi để loại bỏ sáp ong, chờ bàn tay khéo léo thêu thùa theo họa tiết. Riêng khâu in sáp, nhuộm vải đã tốn cả tháng trời. Phụ nữ xóm Sưng chăm chỉ việc nương rẫy, vải vóc thêu thùa tranh thủ thời gian mà thêm thắt thôi. Bà Ki kể, những đàn ong còn sum vầy, chưa bỏ tổ, đồng bào ít khai thác, chờ ong rời tổ mới lấy sáp về. Vì lẽ đó, cây đa to sau nhà bà mùa này ong rời đi thì mùa sau thể nào cũng về làm tổ.
2/Lại băng qua những con dốc, tới lớp học chữ của người Dao Tiền. Non trưa, lớp đã tan, các học viên đội khăn đúng bản sắc đồng bào, từ tốn hạ khăn xuống, gấp cất cẩn thận mới mang mũ bảo hiểm, đi xe máy ra về. Có người mãi tỉnh Phú Thọ cũng sang học chữ. Hai thầy giáo dáng điệu chỉn chu xách cặp ra sau cùng, khoe rằng: Ai đã đi học chữ Dao Tiền, đầu phải đội khăn đẹp đẽ và ngay ngắn! Thầy Triệu Văn Thanh năm nay gần 80 tuổi, lặng lẽ truyền dạy chữ đã lâu nhưng chính thức đứng lớp dạy ba, bốn chục học viên thì mới được hai năm. Giờ sức yếu hơn rồi, thầy chuyên tâm dạy chữ, không lên nương rẫy như xưa. Trợ giảng cho thầy Thanh là thầy Lý Hồng Si. Vừa trò chuyện, thầy vừa tiếc nuối: “Mọi khi lớp đông thì vui lắm nhưng hôm nay bà con đi đào sắn hết rồi! Chỉ trẻ con đang nghỉ học cuối tuần là lên lớp được”.
Trong cặp các thầy giáo có rất nhiều cuốn vở chép tay bằng giấy dó do chính người Dao làm. Những câu ca, điệu hát, tích cổ của người Dao Tiền được chép vào đó, truyền lại cho bao thế hệ học trò. Lớp học ở xóm Sưng gần như miễn phí, các học viên chỉ đóng góp chút phí trà nước, cả năm khoảng 450 nghìn đồng. Gia đình có con cái học hành đến nơi đến chốn như nhà ông Xuân thuộc dạng hiếm. Con gái đầu nhà học Cao đẳng Y, con trai thứ hai học Học viện Bưu chính viễn thông, con trai út học lớp 5, cuối tuần nào cũng hăng hái đi học chữ Dao Tiền với thầy Thanh, thầy Si.
Vài năm lại đây, nguồn sáng đã lấp lánh hơn trên xóm nhỏ. Các dự án du lịch cộng đồng được triển khai, cùng với gia đình ông Xuân, hai hộ khác là nhà ông Lý Văn Thu, Đặng Văn Nhất đã làm dịch vụ lưu trú cho khách du lịch (homestay). Buổi đầu, khi mới được dự án mời đi tập huấn, tham quan mô hình ở địa phương lân cận, các hộ đều lắc đầu kêu khó, kêu khổ. Ngoài căn nhà chính rộng rãi, đủ điều kiện cho khách lưu trú thì nhà bếp, nhà ăn, công trình phụ, cách sắp xếp không gian… đều cần dốc sức xây dựng, sửa sang. Sợ không có nguồn vốn đầu tư, không thay đổi kịp thời đại, không làm hài lòng khách…, cũng đã nhiều lần nghĩ đi nghĩ lại, có khi cứ lên nương rẫy lại tốt hơn!
Âu lo, vướng vít là thế, nhưng thẳm sâu lại le lói lạc quan, tin tưởng. Nhà ông Xuân được dự án hỗ trợ 80 triệu đồng, tự túc thêm 150 triệu đồng để sửa sang, sắp xếp. Đón được vài đoàn khách, lại nảy sinh bất cập cần giải quyết, đơn giản như khu lưu trú cần mở rộng hơn để khách không thấy phiền khi bị tách đoàn sang nhà khác ở. Chưa hết nợ đã vay thêm tiền, nhưng khát vọng đổi thay, thích ứng cứ âm ỉ, bền bỉ. Ngoài ba hộ làm homestay, xóm Sưng lập thêm nhiều tổ nhóm dịch vụ khác, như: ẩm thực, văn nghệ, xe ôm, hướng dẫn viên địa phương… Vừa đón khách, họ vừa giới thiệu văn hóa dân tộc mình qua trang phục, ứng xử, nét đẹp cộng đồng. Vài năm trước, ở giai đoạn rực rỡ nhất, mỗi tháng có khoảng 20 đoàn du khách lưu trú tại xóm, nguồn thu góp phần cải thiện đáng kể đời sống, quan niệm của bà con. Năm 2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, lượng khách giảm nhiều. Cả xóm vẫn nhớ, đoàn khách cuối cùng tới đây từ dịp 8-3-2020. Khách thuê dịch vụ xe ôm chở đồ, người thì đi bộ vài chục cây số xuống xã Tiền Phong, thưởng thức phong cảnh miền sơn cước. Hầu hết các phong tục Dao Tiền đều được gìn giữ nguyên vẹn đến hôm nay, trong đó có lễ cấp sắc cho con trai từ 8 đến 12 tuổi. Du khách mê nhất là điệu nhảy múa truyền thống “chèo chèo”, có người hát, đánh trống, thổi sáo.
trang phục Dao Tiền.
3/“Ông bà Ki” đang trò chuyện với khách thì Phương, con trai út trong nhà mang về một con chuột núi. Xa xưa, người Dao Tiền đã có tục làm cỗ bằng thịt chuột. Vùng núi cao Đà Bắc giá lạnh, khắc nghiệt, mùa giáp hạt thiếu lương thực, dân làng rủ nhau vào rừng bẫy được con gì, ăn con đó. Thú rừng ít và khó gặp, chỉ chuột núi là nhiều. Giống này khác chuột đồng, chuột nhà ở chỗ đuôi rất dài, thịt chắc, thơm ngon. Thịt chuột được chuẩn bị từ trước Tết một vài tháng. Mọi nhà vừa làm nương sắn, nương ngô vừa bắt chuột. Trẻ nhỏ như Phương cũng rất để ý việc này. Chuột mang về làm sạch, bỏ hết nội tạng, đem thui vàng, tẩm ướp gia vị rồi sấy khô, gác bếp. Xuân đến, những xâu thịt khô queo được hạ xuống, chế biến thành nhiều món khác nhau, trước dâng cúng tổ tiên, sau hiện diện trên mâm cỗ mừng năm mới.
Mến khách, người xóm Sưng sẽ mời ấm chè shan tuyết. Cây chè gắn bó với đồng bào cả trăm năm. Mỗi lần hái chè, bà con phải đi bộ hằng giờ vào “đặc khu”. Những cây chè cổ thụ bám vào đá núi trên độ cao hơn 1.000 m, thân to hơn vòng tay ôm, phải trèo cây hoặc bắc thang mới hái được. Giữa bốn bề mây ngàn, sương núi, búp chè tươi ròng, mập mạp, được phủ bởi lớp lông trắng như tuyết. Chính tay dân bản sao, sấy chè, thành phẩm là những chén nước vàng hanh, đậm đà, ngọt hậu. Người Dao Tiền còn giữ được nhiều công thức bí truyền về dược liệu. Xóm Sưng đã mở dịch vụ tắm, ngâm lá thuốc theo phong cách mộc mạc, thân thiện với môi trường và tập tục.
Trò chuyện trong nhà, vẫn nghe tiếng chim rừng và suối róc rách ngoài kia. Sau bữa cơm đón khách, “ông bà Ki” lại lên nương rẫy, còn cả mấy ha sắn chưa nhổ xong.