Trở lạnh

Tôi nhớ những ngày trời trở lạnh. Gió mùa ập đến như đánh úp, mới buổi sáng còn nắng oi nắng ả mà giữa buổi gió đã lục lọi khắp ngóc ngách trong vườn.

Ảnh: SONG ANH
Ảnh: SONG ANH

Mẹ tôi lục những chiếc áo len đã được bọc kỹ bằng mấy lớp nilon gác trên xà nhà. Thế rồi mẹ khoác chiếc áo ấm sờn cũ tỉ mẩn ngồi tháo chiếc áo len của mẹ móc thêm vào tay áo, gấu áo của mấy chị em tôi. Những mũi len cuối cùng bao giờ mẹ cũng móc thành hình cánh hoa hay quả núi. Sau này lớn lên nhớ lại dáng mẹ ngồi ở hiên nhà, cạnh cái cối xay có mấy cái thúng úp lên, cái sợi dây thép treo trước cửa bao giờ cũng lủng lẳng mấy bó lúa nếp, hạt cải, túm ngô giống - cái áo mẹ cứ ngắn đi mãi rồi biến mất như đời mẹ đắp đổi sang đời những đứa con.

Trời trở lạnh nghĩa là quê tôi vào mùa gặt lúa nếp hoa vàng, lúa nếp vụ mùa bao giờ cũng được thu muộn hơn lúa tẻ. Nếp cái hoa vàng thơm từ gốc rạ đến từng bông lúa trĩu tay. Thóc nếp cái hoa vàng cũng phải phơi thật dày trên sân gạch, chớ ham nắng to phơi mỏng nhanh khô. Mẹ bảo thóc nếp cái hoa vàng mà phơi mỏng, nó khô cướp, mất hết hương thơm, hạt gạo ngọt bùi còn quý ở cả làn hương trong chõ xôi hôm rằm, cái bánh chưng ngày Tết. Trời càng lạnh, gạo nếp càng quý, đói lòng được nắm xôi thì ấm bụng lại no lâu. Ở quê tôi, các bà, các mẹ chuẩn bị Tết ngay từ khi trời bắt đầu trở lạnh, từ hạt đậu xanh tháng mười, hạt gạo nếp trắng ngần thơm nức cả lòng tay. Mẹ ngồi ngoài sân sảy sàng gạo, đậu, tỉ mẩn đến khi mười hạt như mười.

Mẹ sai tôi đi mua trấu, trấu có mấy trăm đồng một bao nhưng không phải lúc nào cũng mua được, phải giành giật với mấy đứa trẻ trong làng, có khi thóc đang xát trấu phun mù mịt cũng nhắm mắt lao vào vừa vét vừa dồn túi bụi. Trấu quý lắm, mùa đông cỏ lụi, rơm để dành cho trâu, những bao trấu đem về được xếp ở chái bếp, lần nào đi qua tôi cũng nhẩm đếm chiến lợi phẩm của mình. Trấu để hun đuổi muỗi cho đàn lợn, để tãi ra vườn cho đàn gà có chỗ bươi, rúc cho đỡ rét. Hồi ấy có hẳn cái bếp trấu, thi thoảng trấu cháy gần hết lại dùng que cời bếp gõ một cái cho trấu chảy xuống - lửa sẽ bùng lên. Trấu giữ ấm rất lâu, nấu nướng xong, đặt vào đó nồi nước, ăn cơm xong có nước nóng rửa bát cho đỡ cóng. Rét ngoài đồng là cái rét khủng khiếp nhất, không chỗ trú, bốn bề gió thổi thênh thang, tôi nép vào hông trâu, thò tay vào cái bụng ấm áp của nó.

Trời lạnh, bà mẹ nào cũng mong một hai ngày nắng, mưa phùn vắt từ ngày sang đêm, quần áo không kịp khô, mẹ tôi phải vắt lên vung nồi cám mới có quần áo cho chị em tôi đi học. Hôm nào trời hanh hảnh nắng, cái cầu bến xóm tôi đông như họp chợ phiên, người ta giặt giũ, kỳ cọ từ chiếu màn đến cái thúng, cái rổ đã mốc lên vì ẩm ướt. Xong xuôi đâu đấy, mẹ đẩy ba chị em tôi ra sân giếng, chúng tôi giãy giụa như chó con phải nước. Mẹ kẹp bọn tôi giữa hai đầu gối, hết kỳ lưng đến gội đầu. Vừa kỳ mẹ vừa mắng, vừa cảm thán: “Eo ôi, ghét bở ra cả tảng như cơm cháy đây này”. Lúc được mẹ thả ra, trùm vội quần áo ấm, lăn ngay vào tấm chăn bông nằm mãi vẫn run cầm cập. Cái sân giếng đầy rêu, bên trên có mấy cành bưởi la đà, quả đã ruộm vàng đợi Tết.

Mùa lạnh có lẽ là mùa người ta nhớ thương nhiều nhất. Nhớ mùi khói trong lòng mẹ, nhớ những bàn tay đen nhẻm ủ trong tay của đám bạn gầy guộc run run khi cầm bút, nhớ mảnh áo nilon mẹ cắt ra từ bao phân đạm quấn lên người cho ấm ngay cả khi trời không mưa. Những cái áo len ngắn cũn cỡn từ năm nảo năm nào vẫn sưởi ấm cho mỗi người đi dọc dài những tháng năm lo toan đằng đẵng.