Những người hàn gắn vết thương quá khứ

20 năm sau khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao, không ít cựu binh Mỹ đã quay trở lại Việt Nam với mong muốn góp phần giảm đi những đau thương, mất mát do chiến tranh để lại trên mảnh đất này, cũng như xoa dịu những nỗi niềm trong tâm họ, những người từng tham gia cuộc chiến. Cần mẫn, âm thầm, những người từng ở phía bên kia chiến tuyến đã và đang nỗ lực hàn gắn vết thương quá khứ, vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho những người vẫn còn mang chịu nỗi đau chiến tranh giữa thời bình.

Dự án RENEW giúp vô hiệu hóa bom mìn ở Quảng Trị. Ảnh: RENEW
Dự án RENEW giúp vô hiệu hóa bom mìn ở Quảng Trị. Ảnh: RENEW

“Món nợ” Việt Nam

Chuck Palazzo, người từng đến Việt Nam và đóng quân tại Đà Nẵng trong những năm 1970-1971, hiện là Thư ký Hội cựu chiến binh Mỹ vì hòa bình (VFP), thành viên danh dự của Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam tại Đà Nẵng, đã quyết định đến sinh sống và làm việc tại thành phố chịu nhiều bom đạn trong chiến tranh này từ hơn 10 năm trước. Ông nhớ lại: “18 tuổi, tôi từng là lính thủy đánh bộ Mỹ sang Việt Nam với lời hiệu triệu “để cứu đất nước các bạn”. Nhưng khi chứng kiến những gì diễn ra tại đây, đối mặt sự khốc liệt của chiến tranh, tôi đã sớm nhận ra việc mình đang làm là sai lầm. Tôi quay về Mỹ vào năm 1972 nhưng luôn cảm thấy mình còn món nợ lớn đối với Việt Nam, về những gì mà Chính phủ và quân đội Mỹ đã gây ra cho đất nước các bạn, nhất là tác động ghê gớm của chất độc da cam lên nhiều thế hệ người Việt. Đó là lý do tôi quyết định trở lại đây vào năm 2001”.

Chưa quên cảm giác lần đầu quay lại Việt Nam sau 30 năm, người cựu binh già Chuck Palazzo kể: Tôi vẫn nhớ cảm giác lo lắng khi bước xuống Sân bay quốc tế Nội Bài. Tôi đã sợ rằng người Việt Nam có thể nhận ra tôi là một lính Mỹ từng xâm lược đất nước của họ và sẽ không cho tôi nhập cảnh, thậm chí sẽ bắt giữ tôi. Nhưng tôi đã nhầm! Nhân viên nhập cảnh nhìn hộ chiếu của tôi, anh ta mỉm cười và nói “Chào mừng đến Việt Nam”, rồi chúc tôi một chuyến đi vui vẻ. Suốt những năm qua, tôi luôn muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã tạo điều kiện cho những người nước ngoài như tôi quay trở lại để giúp đỡ những hoàn cảnh éo le do chất độc da cam gây nên.

Với quân nhân Mỹ đã từng chiến đấu tại Việt Nam từ năm 1967 - 1968 như Chuck Searcy, một cựu binh đầu tiên trở lại Việt Nam từ năm 1995, thì sự hội ngộ ở đất nước hình chữ S lại như một nhân duyên. Trước khi quyết định sinh sống tại Việt Nam năm 1995, ông đã có cuộc sống và công việc khá ổn định tại Mỹ. Ông chia sẻ: “Tôi quyết định quay trở lại Việt Nam cùng một người bạn cũng là một cựu binh Mỹ. Chúng tôi đi du lịch, tìm hiểu đất nước các bạn trong gần một tháng và nhận ra rằng Việt Nam đang trong quá trình phục hồi sau chiến tranh. Đó là lúc tôi quyết định mình cần góp sức vào quá trình tái thiết ở đất nước này, đó cũng là trách nhiệm của tôi - một cựu binh Mỹ. Ban đầu, tôi cũng không có ý định lưu lại Việt Nam lâu. Nhưng giờ thì bạn thấy đấy, tôi đã ở đây 20 năm rồi, công việc vẫn dang dở nhưng Việt Nam đã trở thành gia đình của tôi, với rất nhiều bè bạn”.

Hồi sinh vùng đất chết

Ngay sau khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ, ông Bob Stokes, Giám đốc điều hành Peace Trees Việt Nam (Cây hòa bình) cùng các bạn bè Mỹ đã tới Việt Nam. Quảng Trị, vùng đất chịu nhiều thương đau trong suốt cuộc chiến tranh với ước tính có khoảng 60 kg bom mìn trên mỗi mét vuông đất ở đây là điểm đến. Chiến tranh đã qua từ lâu nhưng vẫn có hàng nghìn người dân chết bởi bom mìn còn sót lại. Từ đó đến nay, Peace Trees Việt Nam đã hỗ trợ tháo gỡ và phá hủy khoảng 85.000 vật liệu nổ, làm sạch gần 400 ha đất còn bom mìn, trồng hơn 43 nghìn cây xanh... Khoát tay chỉ những đồi cà-phê, hồ tiêu xanh mướt là minh chứng cho sự hồi sinh trên vùng đất chết năm xưa, ông Nguyễn Văn Tân, xã Tân Liên, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, hồ hởi nói: Trước đây, người dân vùng này đi làm đồng lượm lặt bom mìn, thu gom thành đống ở bờ ruộng. Không ít trẻ em nghịch bom thiệt mạng do bom phát nổ. Nhờ dự án Cây hòa bình, bà con khi phát hiện có bom mìn thì báo cho họ biết để họ xử lý. Vùng đất huyện Hướng Hóa nay đã tương đối sạch, không còn những nguy hiểm chực chờ như trước. Bà con yên tâm canh tác, xây dựng cuộc sống mới.

Ngoài nỗ lực rà phá bom mìn, Peace Trees Việt Nam còn triển khai nhiều hoạt động nhân đạo. Ông Bob Stokes chia sẻ: “Chúng tôi kể cho những người dân Mỹ về những vấn đề ở Việt Nam, về sự tàn phá của chiến tranh qua website của chúng tôi, qua những bộ phim.

Trong những năm qua, chúng tôi tổ chức nhiều chuyến đi cho người Mỹ tới Việt Nam, tới Quảng Trị, giúp đỡ người nghèo, trồng cây xanh. Môi trường ở Quảng Trị bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi chiến tranh, bởi chất độc màu da cam, điều chúng tôi muốn làm nhất là phủ cây xanh lên những mảnh đất đã từng bị bom đạn tàn phá, đó là lý do chúng tôi lấy tên là Cây hòa bình”.

Cũng như Peace Trees Việt Nam, VFP là một trong những tổ chức đi đầu trong việc giải quyết hậu quả chiến tranh Việt Nam. Dự án RENEW giúp rà phá bom mìn ở tỉnh Quảng Trị, hướng dẫn trẻ em và người dân cách nhận biết và bảo vệ bản thân khỏi vật liệu nổ; nỗ lực cung cấp chăm sóc về y tế, phục hồi chức năng, các tiện nghi và chăm sóc cơ bản cho nhiều gia đình Việt Nam bằng nguồn hỗ trợ tài chính từ Chính phủ Mỹ. Cựu binh Chuck Searcy, giờ là Phó Chủ tịch VFP, Cố vấn quốc tế của Dự án RENEW, cho biết: Với số lượng bom mìn rải xuống Việt Nam nhiều gấp bốn lần tổng lượng chất nổ trong Chiến tranh thế giới thứ II, đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị, thì việc khắc phục hậu quả là bài toán lâu dài, cần thực hiện theo lộ trình cụ thể để bảo đảm giải quyết hậu quả triệt để và bảo đảm an toàn cho người dân. Sau nhiều năm kháng án và chối tội, Chính phủ Mỹ đã phần nào hợp tác với Chính phủ Việt Nam để khắc phục các “điểm nóng” nhiễm độc da cam/dioxin nghiêm trọng, bao gồm sân bay Đà Nẵng và hơn 20 khu vực được xác định khác, cũng như đã quan tâm hơn đến việc rà phá, xử lý vật liệu nổ. Ông trầm ngâm: “Dù có muộn màng, song đây là những việc đúng đắn mà chúng tôi phải làm. Ít nhất đó là bước khởi đầu để giúp xoa dịu nỗi đau cho các gia đình là nạn nhân chiến tranh, những người xứng đáng được hưởng công lý trong cuộc đời họ”.

Khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh và hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam là việc Chính phủ Việt Nam triển khai ngay từ sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Tuy nhiên, sự hợp tác hiệu quả của các tổ chức quốc tế và những đóng góp miệt mài, bền bỉ của những người từng ở bên kia chiến tuyến đã góp phần không nhỏ giảm thiểu những đau thương, mất mát do chiến tranh để lại. Những đóng góp đó của họ giúp hai dân tộc Việt Nam và Mỹ cùng hàn gắn vết thương chiến tranh, hướng về một tương lai tốt đẹp hơn!

Bà Rose Gottemoeller, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ đặc trách kiểm soát vũ khí và an ninh quốc tế:

Những người hàn gắn vết thương quá khứ ảnh 1

Tôi đi thăm hiện trường rà phá bom mìn tại Quảng Trị và bản thân đã ấn nút hủy những vũ khí nguy hiểm. Tôi có cơ hội gặp gỡ những nạn nhân bom mìn, hiểu được sự mất mát cũng như nghị lực xây dựng lại cuộc sống của họ. Và tôi cũng đã trồng cây trên đất chiến trường xưa, như là thông điệp muốn khắc phục những tàn dư của chiến tranh trong quá khứ bằng mầu xanh của những cây này.

Ông Chuck Searcy, Phó Chủ tịch VFP, Cố vấn quốc tế của Dự án RENEW:

Những người hàn gắn vết thương quá khứ ảnh 2

Hiện Chính phủ Mỹ đang dần mở rộng tài trợ kinh phí cho các chương trình hỗ trợ nhân đạo giai đoạn 5 năm (2015-2020), với tổng số tiền trị giá 21 triệu USD giúp xử lý bom mìn và 50 triệu USD cho công tác khắc phục hậu quả chất độc da cam, dioxin tại Việt Nam. USAID là đơn vị sẽ quyết định việc phân bổ khoản tiền này cho các cơ quan, tổ chức Việt Nam đưa ra được kế hoạch hỗ trợ nạn nhân da cam một cách hợp lý.

Nếu như giai đoạn 1975-2000, có khoảng 5.000 vụ tai nạn bom mìn và 2.600 nạn nhân, chủ yếu là trẻ em thì giai đoạn sau này, đặc biệt trong 5 năm trở lại đây, tai nạn do bom mìn giảm đáng kể, chỉ có bốn, năm vụ/năm. Trong 20 năm qua, các tổ chức phi chính phủ của Mỹ đã hỗ trợ khoảng 80 triệu USD để giải quyết hậu quả bom mìn. Không chỉ giảm thiểu tác hại của bom mìn, họ còn góp phần cải thiện đáng kể cuộc sống của người dân.