Như ngọn đèn dầu leo lét

Chịu bao nỗi nhọc nhằn, vất vả để sinh con ra, tưởng sẽ được nương nhờ, nào ngờ người mẹ bất hạnh Trần Thị Chung vẫn phải đau lòng vì con phạm tội cướp giật. Cứ đến lịch, chị lại cuốc bộ đến nhà tạm giam của huyện thăm con, trong khi vẫn âm thầm ôm ấp những khao khát tương lai.

Cứ chiều về, chị lại tựa cửa ngóng con.
Cứ chiều về, chị lại tựa cửa ngóng con.

Bao giờ mới được nhờ con?

Tôi nghe chuyện đời chị Chung (sinh năm 1969 ở xóm Thượng, xã Phú Sơn, Ba Vì, Hà Nội), đắng cay và thấm đẫm toàn nước mắt, trong căn nhà ba gian thấp lè tè, tối om. Ngoài trời mưa tầm tã, tiếng của chị, tiếng của khách lẫn vào tiếng mưa. Không có bàn ghế, chị chỉ biết mời khách ngồi tạm lên tấm ván cũ. "Chị kể chậm lắm, yếu mà. Nói về khổ thì đố ai khổ như chị. Cũng có lúc chị rất "máu", nếu không thì sống sao được đến ngày hôm nay".

Bố mẹ sinh hạ được bốn người con, chị là con thứ hai. Nhà chị nghèo lắm. Ðang học dở lớp hai thì mẹ sinh em trai, chị phải nghỉ học để ở nhà trông em, phụ việc nhà. Năm lên 12 tuổi, Chung đã phải lên Thái Nguyên bế trẻ thuê, giúp việc gia đình. Bốn năm trời nơi đất khách, chị phải chịu nhiều tủi nhục. Vì sức khỏe yếu không làm được việc nặng, nên chị thường bị chủ nhà đánh đập, chửi bới. Không ít lần, chị toan bỏ về quê, nhưng nghĩ đến mấy đứa em nheo nhóc ở nhà đói khát, lại đành nhẫn nhục.

Năm 16 tuổi, quá ngột ngạt, bức bối và còn bị nghi ngờ lấy trộm tiền, chị Chung bỏ về quê thật. Hai năm sau, nhiều cô gái trong làng hầu như đều đã yên bề gia thất, chị vẫn đầu tắt mặt tối làm thuê, làm ruộng cùng bố mẹ. Sống trong chập chờn hy vọng của thời con gái, rồi chị quên bẵng tuổi xuân. Năm 27 tuổi, nhớ ra thì đã quá lứa lỡ thì. Nghĩ nhà nghèo, sẽ chẳng ai để ý nữa, chị Chung đành cam chịu cảnh không chồng mà "chửa hoang", hòng kiếm đứa con nương tựa lúc về già. Năm 1995, chị sinh con trai đặt tên là Trần Ðình Thủy. Không có bố nên con trai phải mang họ mẹ.

Họ hàng ít người, toàn nghèo túng cả, khi con trai được hai tháng tuổi, chị Chung đã phải bế con đi làm mướn, ăn xin. Thằng Thủy càng lớn càng tỏ ra lém lỉnh. Có lúc, nó hỏi mẹ bố con đâu, chị chỉ biết khóc. Ðặc biệt, ngay từ bé, con trai chị đã hết sức ương bướng. Những lúc đi chơi về không kiếm được cái gì ngon để ăn, nó bực bội, cáu gắt, còn mắng mỏ mẹ. Năm lên tám, Thủy đi ở chăn trâu và chín tuổi mới được cậu mợ thương tình cho đến trường. "Tuy học muộn nhưng Thủy học giỏi, năm nào cũng được giấy khen", chị Chung nói da diết, chỉ tay lên những tấm giấy khen của con ngày còn đi học.

Năm lên lớp sáu, Thủy bỏ học đi làm thuê vì cậu mợ không đủ điều kiện chu cấp. Năm 2012, Thủy dành dụm mua được chiếc xe máy cũ, nó tính ngày xuống Sơn Tây làm thuê tiếp thì đã bị bắt vì một phút nông nổi. Nhắc đến tội của con trai, chị Chung giàn giụa nước mắt, nấc nghẹn: "Nhà có mỗi thằng con, nó không có bố, cho nên không được nuôi dạy đến nơi đến chốn. Từ khi đi làm thuê nó mới biết thương mẹ hơn. Tưởng được nhờ con khi đau ốm, về già. Ai ngờ...".

Ánh đèn leo lét

Mới 43 tuổi, nhưng chị Chung đã yếu lắm. Người cao, gầy nhẳng, chỉ nặng được 32 kg. Một lần đi gánh nước bị ngã, chị bị ảnh hưởng đến dạ dày và đau âm ỉ đến giờ. Từ lúc thằng con trai duy nhất bị tạm giam, chị suy sụp hơn, khóc nhiều hơn. Không làm được việc nặng, hằng ngày chị chỉ biết lên nghĩa trang Yên Kỳ nhặt vỏ chai, túi ni-lông bán hay kiếm que củi về đun. Chị khoe, nhặt phế liệu ở nghĩa trang "sướng nhất" là dịp lễ, Tết, khi đó người ta thương tình còn cho xôi, bánh kẹo ăn rồi còn được mang về khỏi phải nấu cơm. Nhưng, mùa nắng nóng rất hiếm thứ để nhặt. Thành ra, cả ngày chịu khó, cuối chiều mang xuống cân cho chủ hiệu cũng chỉ được 15 nghìn đồng.

* Chị Chung coi con mình là cục vàng. Giờ "cục vàng" ấy mắc tội, chị buồn thê thảm. Có lúc, lên cơn sốt, chị gọi tên con, rồi giật mình lại ra đứng tựa cửa ngóng. Mà nó đâu có về được...

Một tuần nay, chị Chung ốm, tuy có sổ hộ nghèo nhưng không thể lê chân đi khám hay xin thuốc về uống. Chị chỉ vào hai chiếc xô cao-su đựng nước đặt gần cửa ra vào: "Cách đây nửa tháng, chị đi gánh nước thì ngã bị vỡ xô, đành phải bán mái tóc rối được 200 nghìn đồng và mua hai chiếc xô mới này. Họ đòi 50 nghìn cơ, kỳ kèo mãi mới bớt được hai nghìn đấy". Chúng tôi chỉ biết nhìn nhau, sống mũi cay cay. Nhà chị, ngoài chiếc giường cũ kỹ, những chiếc chai đựng nước cùng những túi giấy đựng ni-lông lượm được chưa kịp mang bán, chẳng có gì đáng giá. Ngay ngôi nhà lụp xụp này cũng là của cậu em cho hai mẹ con mượn sống tạm. Khi xưa nó là mái tranh dột nát. Ngày nắng thì không sao, ngày mưa thì hai mẹ con chỉ biết ôm nhau ngồi co rúm bên một góc giường, không thể nào ngủ được. Thấy chiếc đèn dầu nơi góc nhà, hỏi thì được biết: hơn 13 năm qua, mẹ con chị chưa được mắc điện, phải sống "kiếp đèn dầu". Dầu sắp hết rồi, giờ đau ốm nằm nhà, gạo chẳng có mà ăn. Không biết chị sẽ lấy tiền đâu thắp sáng những ngày sắp tới?

Hỏi thêm về đứa "nghịch tử", chị Chung nghẹn ngào: "Nó bị công an bắt vì theo mấy đứa bạn xấu đi cướp ở quốc lộ 32, giờ đang chờ ngày xét xử". Từ khi Thủy bị bắt, cứ mỗi lần đến lịch được thăm, chị Chung cuốc bộ 10 cây số ra huyện gặp con. Người quản giáo hỏi vì sao không nhờ người đưa đón, chị lắc đầu: "Nhà cháu không có tiền!". Bao nhiêu hy vọng đặt vào con, giờ thành mây khói. Chị Chung chỉ khao khát con mình cải tạo tốt để mong có ngày về làm ăn lương thiện.

Ngồi lâu, chị Chung có vẻ mỏi chân, đứng dậy lê ra cửa nhìn xa xăm. Dáng vóc mỏng manh như có thể ngã khuỵu xuống bất cứ lúc nào. Tôi hỏi: "Vậy những ngày sắp tới, chị tính sao?". Ðột nhiên, chị cười, một nụ cười gượng gạo, như dùng hết sức lực để tạo ra: "Vẫn phải sống thôi em ơi! Ðỡ sốt thì lại đi nhặt nhạnh, kiếm mấy đồng mua gạo".

Tạm biệt căn nhà của người đàn bà nghèo khổ, tôi chợt buồn hiu hắt khi nhìn lại ánh đèn dầu leo lét. Ðúng là, đời chị Chung chẳng khác nào ngọn đèn dầu đó. Không biết trước những cơn giông bão, nó có còn đủ sức tỏa sáng? Mà sợ nhất, thường thì những lần vụt cháy cuối cùng lại đã là khi lụi bấc cạn dầu...