Kỷ niệm 43 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền nam (30-4-1975 - 30-4-2018)

Nhớ về Tháng Tư năm 1975

Ngày 30 tháng Tư năm 1975, đối với chúng tôi, những người học tập và làm việc tại CHDC Đức lúc đó, là những người may mắn vô cùng, có lẽ chỉ sau những đồng bào có mặt tại quê hương…

Sinh viên Việt Nam được lãnh đạo thành phố Leipzig (CHDC Đức) dành cho vị trí dẫn đầu đoàn diễu hành Ngày Quốc tế Lao động 1-5-1975 và mừng ngày toàn thắng của Việt Nam. Khẩu hiệu bằng tiếng Đức: Chào
Sinh viên Việt Nam được lãnh đạo thành phố Leipzig (CHDC Đức) dành cho vị trí dẫn đầu đoàn diễu hành Ngày Quốc tế Lao động 1-5-1975 và mừng ngày toàn thắng của Việt Nam. Khẩu hiệu bằng tiếng Đức: Chào

1/ Đất nước bạn như quê hương thứ hai của người Việt Nam vì những ngày này, từ trong ký túc xá sinh viên ra ngoài đường phố, ở đâu cũng có thể nhìn thấy, nghe thấy thông tin và hình ảnh về Việt Nam. Chúng tôi cũng đã khóc, đã cười, thức trắng đêm và đổ ra đường phố với lá cờ đỏ sao vàng và lá cờ nửa đỏ nửa xanh trên tay, hòa vào hàng vạn người dân sở tại và bạn bè quốc tế diễu hành Ngày Quốc tế Lao động mùng 1 tháng Năm năm 1975. Chúng tôi đã hát vang bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” bằng tiếng Việt và bài hát bằng tiếng Đức “Rot ist der Mai” (tạm dịch “Tháng Năm rực đỏ màu cờ”) do nhóm nhạc nổi tiếng của Đức Oktober Klub sáng tác và biểu diễn:

“Nào tất cả đổ ra đường phố

Tháng Năm ơi, rực đỏ màu cờ

Nào tất cả đổ ra đường phố

Sài Gòn ơi! Đã giải phóng rồi”

Vâng, không hạnh phúc và tự hào sao được khi ngay trong ngày 30 tháng Tư năm 1975, cứ cách 60 phút, các đài phát thanh, đài truyền hình quốc gia CHDC Đức lại phát tin về Việt Nam, về Sài Gòn và giai điệu vừa hùng tráng, vừa tha thiết của ca khúc “Rot ist der Mai” lại vang lên. Nước mắt hạnh phúc cứ chảy tràn, những nụ cười cứ bừng sáng trên những gương mặt Việt Nam, Cu Ba, Chi Lê, Palestin, Liên Xô, Tiệp Khắc... Trong những ngày tháng ấy chúng tôi như đang sống ở quê nhà. Sau 43 năm, bây giờ nhớ lại những năm tháng sống và học tập ở CHDC Đức, đặc biệt hồi tưởng về ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi vẫn thấy rưng rưng, xúc động.

2/ Sau đó một thời gian, khi đi thực tập ở nhà in Freiheit (Tự do), tôi bỗng nghe có một giọng đàn ông nói “chúc mừng, chúc mừng” bằng tiếng Việt. Ông tự giới thiệu tên là Schroener, đã sang làm chuyên gia cho Nhà máy in Tiến Bộ ở Hà Nội những năm 1957-1959. Chiều hôm ấy ông đã mời tôi đi ăn tối với ông. Sau khi uống vài ly rượu vang, mặt ông đỏ lựng, giọng ông nghẹn ngào, mãi không nói được một câu, rồi bỗng dưng nước mắt ông ứa ra. Ông nói như phân bua: “Tôi không khóc bao giờ, nhưng hôm nay vui quá mà sao lại khóc”. Rồi ông ngồi trâm ngâm rất lâu mới khó khăn nói tiếp, giọng đứt quãng: “Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai... có ba dân tộc, ba đất nước bị chia cắt..., bây giờ chỉ có Việt Nam là về lại một nhà. Không biết bao giờ đến lượt Korea. Còn nước Đức của chúng tôi thì...”.

Có lẽ ông định nói “thì không bao giờ” hay đại loại như vậy. Ai ngờ, lịch sử có những lối rẽ không định sẵn, hai nước Đức đã sum họp trong khi Triều Tiên và Hàn Quốc vẫn còn nhìn nhau qua hàng rào dây thép gai. Có điều, cuộc tái thống nhất nước Đức năm 1990 có mang lại cho ông và các đồng chí của ông niềm vui trọn vẹn, ông có mừng đến rơi nước mắt như khi Việt Nam thống nhất hay không, tôi không có thông tin nên không dám suy đoán... Gần đây, năm 2016, khi Nhà máy in Tiến Bộ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập, tôi rất mừng khi đọc thấy tên ông trong cuốn kỷ yếu của đơn vị Anh hùng này. Nếu còn sống, ông đã trên 90 tuổi, dù vui hay buồn, xin ông hãy nhận lời cảm ơn chân thành của những người đồng nghiệp Việt Nam!

Sau hơn 40 năm, những giọt nước mắt của ông vẫn ám ảnh tôi, giọt nước mắt của một người không mang trong mình dòng máu Việt Nam nhưng đã hóa thân thành một-con-người-thời-đại để được rơi những giọt nước mắt hạnh phúc đến tột cùng khi cuộc chiến tranh kéo dài gần một phần ba thế kỷ đã chấm dứt. Máu đã ngừng chảy ở Việt Nam. Những đứa trẻ được sinh ra không còn giật mình vì bom đạn và tiếng gầm rít của máy bay. Một thế hệ mới đã trưởng thành trong một mái nhà chung Việt Nam. Những giọt nước mắt của ông còn làm tôi hiểu thêm rằng, độc lập, tự do, thống nhất đất nước, hòa hợp dân tộc đã trở thành khát vọng chung của nhân loại tiến bộ. Việt Nam đã chứng minh cho thế giới tin rằng các dân tộc có thể và có quyền hiện thực hóa khát vọng của mình nếu biết thực hiện mơ ước đó bằng sức mạnh của cả dân tộc và thời đại.

3/ Sau đó một năm, mùa hè năm 1976, Đại sứ quán Việt Nam được sự hỗ trợ to lớn và đầy tình nghĩa của các bạn Đức đã tổ chức một trại hè lịch sử ở thị trấn Merseburg (nay thuộc bang Sachsen) cho sinh viên Việt Nam học tại CHDC Đức với sự có mặt của một số sinh viên đang học ở CHLB Đức (Tây Đức). Các bạn sinh viên Tây Đức được tham dự tất cả các chương trình của trại hè từ các buổi nghe tổng kết năm học, thông báo tình hình trong nước, học tập chính trị về chủ trương của Đảng và Nhà nước sau khi đất nước thống nhất đến các buổi liên hoan văn nghệ, các cuộc thi đấu thể thao, thi báo tường sinh viên...

Những buổi nghe thời sự ở giảng đường lớn, các bạn sinh viên bên Tây Đức đến rất đúng giờ, chăm chú nghe giảng và ghi chép nghiêm túc. Chỉ sau một ngày làm quen, cùng nhau lên hội trường, cùng uống nước khi nghỉ giải lao, sự dè dặt ban đầu đã nhường chỗ cho những câu chuyện cởi mở hơn. Và đến khi chia tay lúc trại hè kết thúc, đã có những cái ôm thật chặt, những cái nhìn lưu luyến, những kỷ vật được trao tay và những hẹn hò ngày gặp lại. Họ nhanh chóng chia sẻ được với nhau, có lẽ trước hết vì có chung dòng máu Việt Nam trong huyết quản. Tôi bất chợt nhớ đến một câu của đại văn hào Nga Lep Tolstoi, đại ý: tuổi già nhìn về quá khứ, còn tuổi trẻ thấy tương lai hiện ra trước mặt. Sinh viên đều là những người trẻ nên trở thành bạn của nhau nhanh hơn, có lẽ cũng vì họ cùng nhìn về phía trước nhiều hơn. Khi ngồi xem văn nghệ, bên cạnh tôi là anh Huỳnh Kiến Phước, một sinh viên Sài Gòn đang theo học năm thứ hai ở Trường Đại học Aachen, CHLB Đức. Anh tâm sự: “Bên Tây Đức Chính phủ họ đâu có tổ chức trại hè cho sinh viên”. Ngừng một lát, anh rụt rè hỏi: “Năm sau Sứ quán có tổ chức trại hè nữa không anh? Năm nay nhiều người muốn qua nhưng vẫn thấy sợ bị phân biệt đối xử. Giờ qua đây gặp mấy anh và các chú Sứ quán, hết sợ rồi! Sang năm nếu mở trại tiếp, chắc là tụi tôi qua đông hơn”. Tôi đặt tay lên vai Phước: “Mình đều là người Việt Nam, sinh viên Việt Nam mà”. Tôi thấy anh cúi xuống, gỡ cặp kính trắng và dụi dụi mắt, rồi đưa cho tôi một mẩu giấy. Sau khi học xong ở CHDC Đức, về nước tôi tìm đến địa chỉ anh ghi trên mẩu giấy hôm đó, nhưng hàng xóm không ai biết gia đình anh đã chuyển đi đâu.

4/ Cùng dự trại hè năm đó, ngoài các thành phần quen thuộc của Đại sứ quán Việt Nam tại Berlin còn có một vị khách mời đặc biệt: Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn. Trong bài nói chuyện với sinh viên, sau khi nêu bật những bài học thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xác định nhiệm vụ của thế hệ trẻ phải đi đầu trong sự nghiệp xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn theo di nguyện của Bác Hồ, ông đã kể lại việc trả tự do ngày 2 tháng 5 năm 1975 đối với ông Dương Văn Minh và toàn bộ nội các của ông ta theo chính sách khoan hồng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Thượng tướng nhắc lại câu ông đã nói với ông Dương Văn Minh khi đó, đại ý: Người Việt Nam không có kẻ thua, người thắng mà cả dân tộc Việt Nam đã chiến thắng quân xâm lược Mỹ. Giọng ông ôn tồn, điềm đạm, chân thành nhưng có sức truyền cảm rất lớn. Sinh viên chúng tôi, đặc biệt là các bạn ở Tây Đức sang đã nhiều lần vỗ tay kéo dài, tuy không phải ai cũng hiểu hết những điều ông nói và tầm vóc lịch sử của tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc mà Bác Hồ đã nêu lên như một lẽ sống còn trong cuộc đấu tranh để trường tồn và phát triển của dân tộc ta. Thượng tướng nhấn mạnh: “Đây là thắng lợi của cả dân tộc Việt Nam nên sẽ không ai bị bỏ lại đằng sau nếu đồng hành cùng dân tộc”.

Đã hơn 40 năm đi qua, hình ảnh của một vị tướng đã dành cả cuộc đời cống hiến cho cuộc đấu tranh cho khát vọng độc lập, tự do và thống nhất đất nước vẫn in đậm trong tâm thức tôi. Đặc biệt, chỉ hai ngày sau khi giải phóng Sài Gòn, trong bộn bề công việc mà cuộc sống của một thành phố hàng triệu dân hối thúc ông trên cương vị Chủ tịch Ủy ban quân quản, ông đã vận dụng thật sáng tạo chủ trương của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh với tầm nhìn vượt thời gian để khái quát những giá trị tinh thần cao quý từ cuộc chiến đấu của dân tộc ta, làm an lòng biết bao người. Trên con đường muôn dặm đến tương lai, không ai bị bỏ lại đằng sau nếu đồng hành cùng dân tộc.

Hà Nội, Tháng Tư năm 2018