Khẳng định biệt tài
Sinh năm 1953 tại Mát-xcơ-va trong một gia đình người Ô-xê-ti-a, lớn lên tại quê gốc Vla-đi-káp-ka, V.Ghéc-ghi-ép theo học khóa đại dương cầm tại địa phương, rồi tiếp thụ học vấn âm nhạc ở nhạc viện Lê-nin-grát. Học chơi nhạc nói chung và chỉ huy dàn nhạc nói riêng phải mất nhiều năm, nhưng V.Ghéc-ghi-ép khẳng định biệt tài rất sớm: mới 23 tuổi đã giành chiến thắng trong cuộc thi nhạc trưởng trẻ tổ chức tại Béc-lin (Ðức), đang còn là sinh viên đã được mời chỉ huy dàn nhạc của nhà hát Ki-rốp (Lê-nin-grát, nay là Nhà hát ô-pê-ra và ba-lê Ma-rin-ka). Ở nhà hát này, năm 35 tuổi, V.Ghéc-ghi-ép đã được bầu làm Chỉ đạo nghệ thuật của dàn múa ba-lê và từ năm 1996 là Giám đốc - Chỉ đạo nghệ thuật. V.Ghéc-ghi-ép tỏ rõ khát vọng lớn nhất của mình: đưa nhà hát Ma-rin-ka lên hàng hay nhất thế giới, trở thành niềm kiêu hãnh của nước Nga và của Xanh Pê-téc-bua. Ông tìm thấy chìa khóa của sự phát triển - đó là phải đoàn kết!
Quảng bá âm nhạc nước nhà
V.Ghéc-ghi-ép làm việc với dàn ô-pê-ra và dàn ba-lê nhà hát Ma-rin-ka 250 ngày trong năm, đào tạo nên một dàn ca sĩ, nhạc công đẳng cấp quốc tế. Nhưng, thành tựu nghệ thuật chính của ông vẫn ở sự mở rộng và làm mới chương trình, nòng cốt là âm nhạc cổ điển Nga. Ông rất trung thành với X.Pro-cô-phi-ép (1891-1953) - một nhà soạn nhạc mà ông nhận thấy đang bị người thời nay nhãng quên. Trong năm 1999, ông đã dựng mới vở ô-pê-ra Xê-mi-ôn Kốt-kô, và năm 2000, Chiến tranh và hòa bình đã được trình làng, trở thành một trong những vở mới hay nhất mùa biểu diễn 1999-2000. Những vở ô-pê-ra của Mu-xo-rơ-xky, Trai-cốp-xky, Rim-xky-Ko-rơ-xa-cốp, Pro-kô-phi-ép và Sô-xta-cô-vích, những vở ba-lê của Xtra-vin-xky trở thành tiết mục tủ của nhà hát, chiếm vị trí vững chắc trong lòng nhiều thế hệ khán thính giả. Bên cạnh đó, ông chú ý đến cả tác phẩm của các nhạc sĩ phương Tây, một trong những sự kiện lớn là vở Parsifal của nhạc sĩ Ðức thiên tài Ri-chác Vác-nơ (1813-1883) được ông dàn dựng lại năm 1997 sau 80 năm im hơi bặt tiếng ở Liên Xô. Năm 2000-2002, ông triển khai dàn dựng chùm bốn vở ô-pê-ra Chiếc nhẫn của người con xứ sương mù của Ri-chác Vác-nơ bằng tiếng Ðức. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử, các nghệ sĩ Nga trình diễn một vở ô-pê-ra sử thi trường thiên hoàn toàn bằng tiếng Ðức.
Sau 10 năm cộng tác với chỉ một hãng ghi âm "Philips Electronics", ông ghi lại hai dự án về hai tượng đài âm nhạc Xanh Pê-téc-bua: Rim-xky-Ko-rơ-xa-kốp và Pro-kô-phi-ép. Kết quả thu được 30 đĩa lớn: những vở ô-pê-ra Cô gái quê Pơ-xkốp, Xát-cô, Truyền thuyết về thành Ki-tê-giơ vô hình, Ka-sây bất tử, Hôn thê của vua (của Rim-xky-Ko-rơ-xa-kốp), Ðính hôn trong tu viện, Thiên thần lửa, Chiến tranh và hòa bình, Con bạc (của Pro-kô-phi-ép) cùng với Ru-xlan và Lút-mi-la, Hoàng tử I-go, Bô-rít Go-đu-nốp, Con đầm pích, Người đẹp ngủ trong rừng, Rô-mê-ô và Giu-li-ét... Từ năm 1998, những vở Sen-kun-chích, Con chim lửa cùng với Thần Prô-mê-tê của A.Xkry-a-bin giới thiệu diện mạo mới của ba-lê ở Ma-rin-ka. Ông còn tổ chức ghi giao hưởng, hòa tấu của những Glin-ka, Kha-cha-tu-ri-an, Pro-kô-phi-ép, Ra-khma-nhi-nốp, Sô-xta-kô-vích và Trai-cốp-xky. V.Ghéc-ghi-ép không chỉ mở ra cho thế giới phương Tây thấy được giá trị của âm nhạc Nga, mà còn làm cho nhà hát Ma-rin-ka bây giờ thể hiện sự tổng hòa hiếm thấy.
Thế giới ngưỡng mộ
V.Ghéc-ghi-ép là nhạc trưởng được cả thế giới trọng vọng. Ông vừa làm việc cho nhà hát Ki-rốp, vừa nhận chỉ huy dàn nhạc giao hưởng quốc gia Ác-mê-ni-a, vừa làm đạo diễn chính của nhà hát ô-pê-ra "Metropolitan", Niu Oóc, Mỹ (trong lịch sử tồn tại từ năm 1880 đến nay, chức danh này chỉ được lập ra cho riêng V.Ghéc-ghi-ép), vừa chỉ huy những dàn nhạc lừng danh thế giới, của những Nhạc viện Viên, Rốt-téc-đam, Luân Ðôn, Chi-ca-gô, Béc-lin, Xtốc-khôm, của những nhà hát ô-pê-ra "Hoàng gia", "Covent Garden" (Anh), "La Scala" (I-ta-li-a)... Ðồng thời, ông cũng là người sáng lập và chỉ đạo nghệ thuật nhiều liên hoan âm nhạc quốc tế: "Vì hòa bình ở Káp-ka" (Nga), "Mikkeli" (Phần Lan), "Biển Ðỏ" (I-xra-en), "Hòa nhạc Ki-rốp tại Luân Ðôn" (Anh), "Ghéc-ghi-ép ở dàn nhạc Rốt-téc-đam" (Hà Lan) và "Những ngôi sao đêm trắng ở Xanh Pê-téc-bua" (Nga)...
Hàng loạt thành tựu nghệ thuật tầm cỡ bậc thầy đã mang lại cho V.Ghéc-ghi-ép rất nhiều danh hiệu, giải thưởng trong nước và quốc tế: Nghệ sĩ Nhân dân của Nga, U-crai-na, Bắc Ô-xê-ti-a; Công dân Danh dự của bốn thành phố lớn Xanh Pê-téc-bua, Vla-đi-káp-ka (Nga), Ly-ông và Tu-lu-dơ (Pháp). Nước Nga đã phong tặng ông bốn giải thưởng Nhà nước (1993, 1994, 1998, 2001), giải thưởng của Tổng thống (2001) và những giải thưởng nghệ thuật sân khấu cao nhất: năm "Mặt nạ Vàng" (liên tục từ 1996 đến 2000), giải "Ð. Sô-xta-cô-vích" (1997) và bốn giải "Soffit Vàng" (1997, 1998, 2000 và 2003) cho nhạc trưởng hay nhất. Cộng đồng âm nhạc quốc tế đã trao cho ông "Polar Music Prize" của Viện Hàn lâm Âm nhạc Hoàng gia Thụy Ðiển (1998), giải thưởng "Héc-bét vôn Ka-ray-an" của Ðức (2006), "GlashŨtte Original Music Festival Prize" của châu Âu (2010), v.v. Ông đã nhiều lần được tấn phong danh hiệu "Nhạc trưởng hay nhất thế giới trong năm" được bầu chọn bởi Ban giám khảo Tổ chức quốc tế "International Classical Music Awards" (1994), bởi Hiệp hội các dàn nhạc Hoàng gia Anh (2009)... Năm 1998 ông nhận giải Ðặc biệt của "Philips Electronics" về đóng góp kiệt xuất vào văn hóa âm nhạc, và khoản tiền thưởng khá lớn này được tặng lại Viện Ca sĩ trẻ của nhà hát Ma-rin-ka. Năm 2000, ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Sáng tạo quốc tế. Năm 2010, V.Ghéc-ghi-ép là đại biểu duy nhất của nước Nga được tạp chí Mỹ Time đưa vào danh sách 100 người có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Năm 2011, ông được bầu làm Chủ tịch Danh dự của Liên hoan Nghệ thuật quốc tế Ê-đin-buốc (Xcốt-len).
V.Ghéc-ghi-ép còn được hàng loạt phần thưởng cao quý của Chính phủ các nước khác: Huân chương Công trạng Thập tự hạng Nhất (Ðức, 2001), Huân chương Sĩ quan vĩ đại có công với nước (I-ta-li-a, 2001), Huân chương Văn học và Nghệ thuật (Pháp, 2003), Huân chương Bắc Ðẩu Bội tinh (Pháp, 2007), Huân chương Mặt trời mọc (Nhật Bản, 2006)... Tháng 3-2003 được tấn phong danh hiệu Nghệ sĩ Thế giới của UNESCO. Năm 2005 - tước hiệu Hiệp sĩ - Huân chương Sư tử Hà Lan...
Cho nên, đương nhiên, Tổng thống Nga tuyên dương Anh hùng Lao động đầu tiên cho một nhạc trưởng là V.Ghéc-ghi-ép, người có tài phù phép vào âm thanh, trau chuốt các tinh hoa âm nhạc của dân tộc và nhân loại, giúp các nghệ sĩ khác trên khắp thế giới khám phá ra chính mình để có danh phận nghệ thuật sáng láng, giúp công chúng hướng tới dòng nhạc cao sang.