Trần Mai Ninh tên thật là Nguyễn Thường Khanh, sinh năm 1917, tại quê hương Hà Tây (nay là Hà Nội). Ngoài tên thật, từ 1938, ông bắt đầu dùng các bút danh T.K, Hồng Diện, Mạc Đỗ, và sau nữa là Tố Chi, Trần Mai Ninh. Mới 21 tuổi, nhưng ông đã tỏ rõ một sức sáng tạo dồi dào từ thơ, tiểu luận, tranh vẽ và cả tiểu thuyết. Trên báo Ngày nay số 208 có đăng tin ban giám khảo Giải thưởng văn chương Tự lực văn đoàn năm 1939 coi bốn quyển tiểu thuyết xứng đáng được giải thưởng là Cái nhà gạch, Làm lẽ, Tan tác và Rạng đông. Tác giả Rạng đông là Trần Mai Ninh.
Năm 1939, bị mật thám Hà Nội theo dõi ráo riết, Trần Mai Ninh phải về thị xã Thanh Hóa. Ông viết bài cho báo Bạn đường, và làm biên tập chủ chốt của báo Tự do, cơ quan tuyên truyền và đấu tranh bí mật của Mặt trận phản đế cứu quốc Thanh Hóa. Đây là thời gian ông có nhiều thơ in trên báo chí. Trần Mai Ninh dùng thơ để tuyên ngôn cách mạng, ca ngợi tình yêu thương và tự do. Thơ ông khác hẳn thơ ca đương thời cả về nội dung và hình thức. Có thể nói, ông đã làm cuộc cách tân thơ, bắt đầu từ nội dung mà làm mới hình thức biểu hiện, lời thơ gọn, mạnh; đặc biệt đã bộc lộ một khí phách lớn:
Lòng tôi đứng dậy cao ghê quá
Nó muốn nâng lên dậy cả trời
Và tung ra khắp không gian rộng
Để kết liên người lại với người
Những câu thơ trên trong bài Thắc mắc, đăng trên báo Mới tháng 6-1939. Bài Từ biệt, nhà thơ đề tặng các chiến sĩ anh dũng trong đội quân quốc tế, những câu thật dữ dội, lay động lòng người: Chỉ một mình mạnh vươn trên bể máu.../ Quân quốc tế hát bài ca với lệ/ Đã ngoảnh nhìn lần cuối Tây Ban Nha... Năm 1939, khi mà thơ Việt Nam ngợp trong bầu không gian lãng mạn với những xúc cảm tình ái, buồn thương, bi phẫn, mới thấy thơ Trần Mai Ninh là thơ của một thời đại thơ ca khác. Và, ông đã quyết đi tới, dẫu đương thời, người đời còn chưa biết nó ở đâu.
Từ 1939 đến 1941, thực dân Pháp truy sát những người yêu nước rất gắt gao. Sống trong gian nan thiếu thốn, Trần Mai Ninh vẫn viết đều. Ông là người đầu tiên dịch tiểu thuyết Người mẹ của M. Goóc-ki, đăng tải nhiều kỳ trên báo Người mới. Tháng 9-1941, Trần Mai Ninh gia nhập Chiến khu Ngọc Trạo, làm đội trưởng Đội xung kích. Thời gian chiến đấu ấy, ông vẫn sáng tác thơ và đã viết cuốn tự truyện Một quãng đời say. Chiến khu Ngọc Trạo bị vỡ, Trần Mai Ninh bị giặc bắt trong chiến đấu, thật tiếc, bản thảo Một quãng đời say rơi vào tay giặc Pháp, bị chúng hủy mất. Đầu năm 1944, thực dân Pháp đày ông đi Buôn Ma Thuột. Dịp Nhật đảo chính Pháp, ông đã vượt ngục, về hoạt động ở Khu V, rồi tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Quảng Ngãi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Rồi Trần Mai Ninh làm báo Tiến hóa, cơ quan Văn nghệ cứu quốc Quảng Ngãi. Ông đã dịch, giới thiệu văn học Xô-viết trên báo Tiến hóa; viết về nhà văn Nga I-li-a Ê-ren-bua trên Tạp chí Tiên phong, cơ quan của Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam; và bắt đầu dịch thơ V. Mai-a-cốp-xki... Đâu ngờ, trong một chuyến đi công tác bằng ghe mành, Trần Mai Ninh bị sa vào tay giặc. Chúng đưa ông về giam ở nhà tù Nha Trang, rồi giết ông một cách đê hèn. Khi ấy, nhà thơ mới 30 tuổi đời, bút lực đang dồi dào, lý tưởng nghệ thuật thật cao cả, mới bắt đầu viết những tác phẩm tâm huyết cho thời đại thi ca mới của nước Việt Nam tự do và chiến đấu. Và, ông chỉ kịp sáng tạo nên hai bài thơ Nhớ máu và Tình sông núi.
Có thể nói, đến Nhớ máu thì bản lĩnh thơ của Trần Mai Ninh hoàn thiện, và lần đầu tiên thơ trữ tình Việt Nam có một giọng thơ hừng hực chí khí chiến đấu, ngùn ngụt lửa máu: Còn mấy bước nữa tới Nha Trang/ A, gần lắm/ Ta gần máu/ Ta gần người/ Ta gần quyết liệt... Bài thơ viết đêm 9-11-1946, còn 40 ngày nữa mới đến thời điểm phát lệnh toàn quốc kháng chiến. Khi đó thực dân Pháp đã gây hấn, và Nha Trang, Khánh Hòa đã có chiến sự dữ dội: Ơi hỡi Nha Trang/ Cái đô thành vĩ đại, câu thơ hay, vang động lạ thường. Nha Trang, Khánh Hòa trong xúc cảm Trần Mai Ninh không chỉ là một thành phố, nó là một biểu tượng Tổ quốc. Mắt ta căng lên/ Cả mặt/ Cả người/ Cả hồn ta sát tới... Ngôn ngữ thơ mạnh, căng thẳng, mô tả sự dấn thân ghê gớm vì nghĩa cả. Nhớ máu là một trong những bài thơ chiến đấu sớm nhất của nước Việt Nam độc lập, và nhà thơ đã bước vào cuộc chiến tranh thần thánh với một tâm hồn hùng tráng: Những con người/ Đã bước vào bất tử/ Ơ, những người/ Đen như mực, đặc thành keo.../ Hay những người gầy sắt lại/ Mặt rẹt một đường gươm/ Lạnh gáy. Khi mới bắt đầu sáng tác, Trần Mai Ninh đã cách tân thơ, từ nội dung mà cách tân hình thức. Đến Nhớ máu thì thơ của ông mới hơn hẳn Thơ mới, và cho đến bây giờ, đầu thế kỷ 21, vẫn còn mới! Xét về bản chất, Trần Mai Ninh là nhà cách mạng làm thơ, vì cách mạng mà sáng tác thơ. Theo thời gian, thơ ông chín dần, nội dung cách mạng và chiến đấu trong thơ ông sâu sắc, những hình tượng thật lớn và những câu thơ thật sự cất cánh: Máu chan hòa trên góc cạnh kim cương/ Các anh hùng tay hạ súng trường/ Rồi khẽ vuốt mồ hôi và máu/ Cười vang rung lớp lớp tinh cầu...
Bên cạnh bài Nhớ máu ngùn ngụt chí khí, bài Tình sông núi thật mơ mộng, độc đáo, cho thấy phẩm chất thơ Trần Mai Ninh đủ đầy, trọn vẹn. Trăng nghiêng bên sông Trà Khúc/ Mây lồng và nước reo/ Nắng bột chen dừa Tam Quan/ Gió luồn uốn éo/ Bồng Sơn dìu dịu như bài thơ/ Mờ soi Bình Định trăng mờ... Làng mạc, sông núi vừa to lớn vừa thân gần, không chỉ ngắm nhìn bằng mắt, mà được ngắm nhìn bằng tâm hồn nhà thơ. Phú Phong rộng/ Phú Cát lỳ/ An Khê cao vút/ Gió lạnh rừng buồn/ Mượn ai kín hộ nước nguồn về đây. Những địa danh như đầy hồn người, và không gian sử thi như phập phồng trong những con chữ: Gầu nước reo vàng/ Tiếng thoi dội rộn ràng vách nghiêng/ Dân tộc mồ hôi thấm đất/ Bắp căng như đồng/ Tay ghì cán cuốc/ Tay ghì tay xe/ Nhìn quanh là cả bốn bề cần lao... Xúc cảm thơ Trần Mai Ninh chưa bao giờ được như lúc này, vừa làm chủ vừa vồ vập yêu non sông đất nước. Tạo dựng nền dân chủ cộng hòa và đứng lên bảo vệ:
Có mối tình nào hơn thế nữa?
Nói bằng gươm bằng súng sáng rền
Có mối tình nào hơn thế nữa?
Trộn hòa lao động với giang sơn
Có mối tình nào hơn
Tổ quốc?
Sau gần sáu mươi năm, Nhớ máu và Tình sông núi vẫn có sức lay động lạ thường. Sự mới lạ về ngôn ngữ thơ cũng hấp dẫn người đọc lạ lùng. Đó là cống hiến lớn cho thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ Trần Mai Ninh hay và mới lạ, cuộc đời ông cũng thật lạ thường.
Về cái chết của Trần Mai Ninh, các nhân chứng sau này kể lại, những chi tiết như huyền thoại. Trần Mai Ninh bị địch đưa về giam ở nhà tù Nha Trang, bị tra tấn dã man mà vẫn luôn chửi mắng kẻ thù. Ông còn vẽ nhiều tranh có nội dung cách mạng lên tường nhà giam. Kẻ thù đã cắt lưỡi và chọc mù hai mắt ông. Cuối cùng chúng dùng xe kéo lê xác ông trên đường phố, rồi bêu đầu ông ở chợ. Nhưng đến đêm, dân chúng yêu quý nhà thơ đã lấy, đem đầu ông đi mai táng... Nhiều người kể, có khác nhau một vài chi tiết, nhưng đều toát lên lòng yêu quý, khâm phục nhà thơ tận lòng báo quốc.
Thế mới thấy, bão táp trên quê hương Việt Nam ta mấy chục năm qua thật là ghê gớm! May sao, có hai bài thơ cuối cùng thì còn lại, là thay nhà thơ sống giữa nhân dân, đất nước. Nhớ máu và Tình sông núi, tên hai bài thơ gợi cho người đời, là máu, là tình yêu của Trần Mai Ninh. Nó trở thành châu ngọc trong kho báu thơ ca Việt Nam.