Người lính và cuộc chiến giữa thời bình

Đã hơn 30 năm giã từ vũ khí, nhưng với cựu chiến binh Đỗ Trọng Đào ở thôn Trại Chuối xã Đồng Kỳ- huyện Yên Thế (Bắc Giang), chưa có một ngày bình yên. Bị phơi nhiễm chất độc da cam, dẫn đến di chứng nặng nề cho cả ba người con, nỗi đau chiến tranh vẫn ám ảnh ông từng ngày, từng giờ. Bằng nghị lực sống mạnh mẽ, ông đã vượt lên, tạo dựng cuộc sống ổn định cho gia đình, giúp các con trở thành những người có ích cho xã hội.

"Ba đứa con tật nguyền là nguồn động lực lớn để tôi có niềm tin vào cuộc sống".
"Ba đứa con tật nguyền là nguồn động lực lớn để tôi có niềm tin vào cuộc sống".

Khi người lính trở về...

Cương nghị và hoạt bát là ấn tượng đầu tiên của tôi về cựu chiến binh Đỗ Trọng Đào. Năm 1972, ở độ tuổi đôi mươi, theo tiếng gọi của Tổ quốc ông lên đường nhập ngũ. Từ chiến trường Tây Ninh, rồi lại hành quân sang miền đông Nam Bộ. Ông vẫn nhớ như in trận đánh vào ngày 5-5-1974 (âm lịch) tại chiến trường miền đông Nam Bộ, ông và một đồng đội đang trú ở trong hầm thì bất ngờ bị máy bay địch oanh tạc, bom dội xuống ầm ầm, nắp hầm nơi ông trú ẩn bị sức ép của bom dội bật ra xa. Ông bị sức ép của bom đến chảy máu tai, phải đưa về tiền trạm sơ cứu. Năm 1979, ông lại lên đường hành quân sang chiến trường Cam-pu-chia, cho đến tháng 7-1981 ông phục viên, hai năm sau xây dựng gia đình với một người con gái hiền hậu cùng thôn.

Giọng ông Đào chùng xuống khi nhớ về những năm đầu hai vợ chồng mới lấy nhau ra ở riêng với muôn vàn khó khăn. Ông lăn lộn đi làm thuê cuốc mướn, vợ ông làm năm sào ruộng và chăn nuôi thêm con lợn con gà. Năm 1985, vợ chồng ông sinh được con đầu là Đỗ Trọng Quảng, cũng bình thường như bao đứa trẻ khác. Nhưng đến tháng thứ ba, Quảng bị một cơn co giật kéo dài, hậu quả một cánh tay teo lại, thần kinh bị ảnh hưởng. Đến năm 1988, ông bà sinh anh thứ hai là Đỗ Trọng Quyền, mang trong bụng dị tật, dần dần phát triển thành một cái u lớn. Năm lên bốn tuổi, anh Quyền bị mắc phải căn bệnh đường ruột.

Khi nhắc đến người con thứ ba Đỗ Trọng Quyên, đôi mắt ông Đào chợt ngấn nước. Có lẽ tất cả tình yêu thương của ông bà đã dành hết cho người con út kém may mắn nhất trong số ba người con mang trong mình di chứng chất độc mầu da cam.

Từ khi sinh ra ngày nào anh cũng bị một cơn co giật, chân tay co quắp, người tím tái. Quyên không có khả năng tự chăm sóc bản thân, gia đình luôn phải có một người túc trực. Hiện anh Quyên đang được hưởng chế độ loại hai: con của người phơi nhiễm chất độc da cam với mức 1.220.000 đồng/tháng. Vợ ông thì ốm đau bệnh tật quanh năm, bà bị bệnh co thắt vành tim đã hơn 20 năm nay, do không có điều kiện chữa trị kịp thời nên bệnh của bà ngày một nặng. Còn ông Đào bị sức ép của bom nên thường xuyên bị đau nửa đầu bên phải, bên mắt trái nhìn kém. Ông được hưởng chế độ 1.549.000 đồng/tháng cho đối tượng bị trực tiếp phơi nhiễm chất độc da cam.

Cuộc chiến giữa thời bình

Xoay trở với gánh nặng gia đình, nhiều đêm ông Đào không ngủ. Rồi ông nhận ra rằng, mình còn trí óc và đôi bàn tay lành lặn thì tại sao mình không thể xây dựng kinh tế gia đình?! Nghĩ là làm, khi anh Quảng học hết cấp II, ông vay ngân hàng năm triệu đồng và tìm cách liên hệ với một người bà con có xưởng mộc ở Đông Anh - Hà Nội để cho anh xuống học nghề. Anh Quảng rất chăm chỉ chịu khó lại ham học hỏi nên tiếp thu được nhiều "ngón nghề". Năm 2004, ông Đào vay tiếp 50 triệu đồng từ ngân hàng để mở xưởng và lấy vốn cho anh Quảng làm ăn. Theo bước anh trai mình, anh Quyền tham gia xưởng mộc của gia đình. Hai anh em bảo ban nhau làm ăn, sau ba năm thì số tiền vay ngân hàng đã được trả hết và tiết kiệm được một khoản làm vốn.

Năm 2013, hai anh đã bỏ ra được hơn 100 triệu đồng để xây dựng lại nhà xưởng và mua một máy xẻ gỗ phục vụ công việc. Hiện tại khách hàng của gia đình không chỉ trong địa bàn xã mà người dân trong huyện và các huyện lân cận cũng biết tiếng tìm đến đặt hàng. Các sản phẩm mộc chủ yếu là bàn ghế, tủ, giường, cầu thang, đồ mỹ nghệ cao cấp. Trong xưởng của gia đình thường xuyên có từ bốn đến năm nhân công với thu nhập bình quân từ ba đến bốn triệu đồng/tháng.

Anh Quảng, anh Quyền cũng lần lượt xây dựng gia đình và sinh ra những đứa con lành lặn. Trong cuộc trò chuyện tôi cảm nhận mỗi khi nhắc đến hai đứa cháu một trai, một gái là ánh mắt ông Đào lại ánh nên niềm hạnh phúc và hy vọng. Những đứa trẻ ấy chính là mầm sống, là nguồn động viên, an ủi lớn cho những năm tháng tuổi già của ông bà.

Bản thân ông Đào chưa dừng lại, ông vẫn lăn lộn ngoài ruộng với hơn 200 cây quất, hết chăm sóc lại tỉa cành, chăm cây như chăm con. Đến thời điểm hiện tại đã có hơn 40 cây cho quả, vào những đợt cao giá mỗi cân quất có giá 24.000 đồng/kg. Từ những cây quất này đã đem lại cho ông bà nguồn thu đáng kể.

Kể cho tôi về những thành quả sau nhiều năm vất vả, ông Đào chợt trầm ngâm: "Tôi không dám nhận mình là người giàu có, bởi thu nhập của gia đình chỉ ở mức đủ ăn và dư chút đỉnh để lo cho các cháu học hành. Chính ba đứa con tật nguyền là nguồn động lực lớn để tôi có niềm tin vào cuộc sống, tôi chưa làm được điều gì lớn lao mà chỉ là người định hướng, giúp các con trở thành những người có ích cho xã hội".

Trong chiến tranh ông là một người lính gan dạ, dũng cảm. Trong thời bình ông là một tấm gương biết vượt qua khó khăn để xây dựng gia đình no ấm, tạo dựng cho các con công việc ổn định. Điều cảm nhận lớn hơn từ ngôi nhà nhỏ đã ấm áp tiếng cười con trẻ ấy, chính là niềm lạc quan, vui sống, tin vào chính mình và tin vào hạnh phúc cuộc đời ngay cả trong những thời điểm gian khó nhất. Không chỉ cho mình, người lính già can trường ấy đã truyền được nghị lực sống cho những đứa con kém may mắn, giúp họ vững bước trong cuộc đời.