Người không được ốm

Nói vậy có vẻ "khó nghe", vì phàm đã là con người sống trên đời, thì làm gì có ai lại mong được ốm, được đau. Thế nhưng với bà Bùi Thị Mỹ lại khác. Mấy chục năm qua bà vẫn hằng ao ước, giá mà mình được... ốm lấy một lần. Cứ ao ước thế thôi chứ chưa bao giờ bà dám ốm cả. Nhà có năm người thì bốn người đã như cột mục, giờ mà bà chùng xuống một chút thôi là cái nhà ấy sẽ sập bất cứ lúc nào. Bà thở dài tự nhủ: "Có lẽ ông giời vẫn thương!".

Dù các con đã nhiều tuổi, song bà Mỹ vẫn phải chăm sóc như những đứa trẻ. Ảnh: ANH ĐỨC
Dù các con đã nhiều tuổi, song bà Mỹ vẫn phải chăm sóc như những đứa trẻ. Ảnh: ANH ĐỨC

Hòn vàng thì mất...

Không sắc nước hương trời, song vẻ "mỏng mày hay hạt" của cô gái xứ Mường (Kim Bôi, Hòa Bình) - Bùi Thị Mỹ cũng đủ làm ngẩn ngơ bao gã trai. Bà con người Mường tự hào lắm khi ở chốn đồng rừng của mình có anh Bùi Văn Cột bên xã Trung Bì (Kim Bôi) được đi học những bốn năm ở nước ngoài, lại còn là đảng viên gương mẫu. Khi cô Mỹ bén duyên với anh Cột, ai cũng tấm tắc khen họ đẹp đôi, rồi nhiều người thấy yên yên cái bụng, nghĩ rằng cô tốt phúc.

Năm 1978 họ sinh cô con gái đầu lòng, đặt tên là Bùi Thị Nga. Thiên thần bé của ông bà bụ bẫm, trắng trẻo, so với những đứa trẻ sơ sinh trong xứ Mường nhà mình, Nga còn có phần kháu hơn. Mãi đến khi con gái sáu tháng tuổi, họ mới nhận ra con không hề có phản xạ mắt.

Ông Cột đi Bun-ga-ri những bốn năm, nhưng với cái tính thật thà, chất phác cố cựu của trai bản, ông không biết đi mua bàn là, quạt con cóc... để mang về buôn bán như bao người.

Nhờ chăm chỉ, hai vợ chồng còn khỏe mạnh nên kinh tế cũng khá hơn so với những gia đình trong xã. Họ lội rừng, cắt núi đưa con về Hà Nội khám bệnh, bác sĩ bảo cháu bị đục thủy tinh thể do suy não bẩm sinh, phải thay cho cháu cái thủy tinh thể nhân tạo may ra mới nhìn được. Họ đưa con về, quần quật làm việc kiếm tiền chờ con đủ tuổi phẫu thuật lại đưa ra Hà Nội để thay mắt. Mắt được thay, Nga nhìn được rồi nhưng đôi chân thì ngày càng teo lại. Em bước đi rón rén, khó khăn chứ không phăm phăm chạy như những đứa trẻ đang ở tuổi ăn tuổi chạy khác. Không ai nói với ai, song ông bà đều hiểu, đó cũng là ảnh hưởng của suy não! Bao nhiêu hy vọng của gia đình đều dành cả vào cô con gái thứ hai Bùi Thị Na. Nhưng cũng chỉ được vài tháng tuổi vợ chồng lại ôm con về Hà Nội, rồi lại ôm con khóc không thành tiếng.

Cả đôi mắt và đôi chân loeo ngoeo của Na cũng giống hệt chị gái. Bà nội phải ở nhà trông cháu, vì cả hai đứa đều chỉ có thể lê từng bước khi níu lấy tay bà. Ông Cột, bà Mỹ ngày càng ít nói, họ cứ lầm lũi chăm con, lầm lũi với máy xúc, máy ủi, với ruộng đồng để chắt bóp cho cái gia đình méo mó.

Tám năm sau, ông bà sinh đứa con thứ ba, khi đứa trẻ được gần hai tuổi, đã học đi, học chạy thì những lời xì xào ma tà, quỷ ám mới thôi bám lấy cái gia đình khốn khó của ông bà. Lúc đó ông bà mới dám đặt tên con là Bùi Thị Mừng. Mừng không bị bất kỳ một di chứng nào như hai chị, vẫn ngày ngày vừa đi học, vừa phụ mẹ dong trâu ra bãi. Nhìn đứa con khôn ngoan, nhanh nhẹn, thấy nếp nhà u ám đã được bừng lên, ông yên tâm đi công trường xa nhà, bà thì mừng đến rơi nước mắt.

Thế nhưng, nước mắt của hạnh phúc chưa "tày gang" thì nước mắt của nỗi đau ập đến.

Sau trận mưa lớn, Mừng dong trâu ra bãi, để sang được bãi thì phải qua con suối đầu làng.

Mừng cưỡi trâu qua. Đứa trẻ lên 10 không thể nhận thức được là con nước đã lớn và nguy hiểm đến thế nào. Chú trâu hiền lành lội xuống dòng nước, cái mũi ngếch lên thở phì phì, lưng trâu cứ thế hủm xuống, còn Mừng thì bị nước cuốn đi.

Thay chồng làm cột

Mừng mất chưa được bao lâu thì cái thủy tinh thể nhân tạo thay cho cô con gái lớn năm nào dần dần mất tác dụng, đôi mắt Nga mờ dần, rồi mù hẳn. Bà Mỹ bảo "nó chỉ là cái thứ mắt nhân tạo, nên cũng đến ngày hết hạn sử dụng thì phải". Nghĩ thế, biết thế, nhưng bây giờ bảo ông bà cho con đi thay đôi mắt mới thì ông bà cũng chịu thôi. Quần quật bao năm cũng chỉ đủ nuôi ăn cho hai đứa con tàn tật, mẹ già và hai vợ chồng khốn khổ. Nghe hai đứa con què quặt, mù lòa trò chuyện như bao người bình thường khác, bà lại càng đau.

Xóm giềng, họ mạc thương đôi vợ chồng đã có tuổi mà vẫn đau đáu nỗi lo con cái. Mọi người động viên ông bà sinh thêm đứa nữa, biết đâu nó sẽ lành lặn như cái Mừng. Thế là sau 21 năm sinh đứa con đầu, ông bà lại ấp iu hy vọng. Nhưng rồi cô con út Bùi Thị Lành đã khiến ông bà chìm nghỉm trong tuyệt vọng.

Lành không giống Mừng, mà cũng bại não và suy thủy tinh thể như hai chị gái đầu.

Thật khó có từ ngữ nào diễn tả được nỗi đau của vợ chồng bà Mỹ. Người đàn ông làm trụ cột gia đình đã không thể cầm được nước mắt, đôi vai ông Cột sụp xuống, câm lặng. Từ bấy ông hay uống rượu, mỗi lúc cầm chén rượu trong tay, ông lại khóc, đôi tay run rẩy. Bà Mỹ lần cuối cùng gào khóc, ngất lên ngất xuống là khi anh em họ hàng giữ bà lại, không cho bà ra nhìn mặt đứa con - niềm hy vọng, an ủi của ông bà lần cuối. Sau đận ấy, mắt bà cứ trơ khấc, nước mắt chẳng thể nào rơi được nữa. Có lẽ bà không dám khóc thì đúng hơn, bởi trụ cột gia đình đã sụp xuống rồi thì bà phải gồng dậy thay chồng làm cột chống đỡ cái gia đình xiêu vẹo.

Sức khỏe của ông Cột xuống rất nhanh, đã từ lâu ông không thể phụ việc đồng áng với vợ, ngày ngày ông quanh quẩn ở nhà cơm nước.

Khi ông bà cùng ở nhà, nhìn ba cô con gái bò lổm ngổm như cua cáy, dường như họ tránh ánh mắt của nhau.

Bà Mỹ kể, ông Cột uống rượu lâu rồi, nhưng những lần say gần đây ông mới khóc lóc quỳ mọp dưới chân bà, rồi lại quỳ xuống sờ nắn ba đôi chân như những dải khoai của các con như thể cầu xin bà và con tha lỗi. Trong cơn say, ông bảo ông đã vắt óc nhớ lại đến từng ngày, từng giờ trong cuộc đời mình; cả cuộc đời làm công nhân cầu đường, ông chưa một ngày làm việc trong vùng địch rải chất độc hóa học; hồi phục vụ kháng chiến, nơi ông được điều đi xa nhất cũng chỉ là vùng núi Tương Dương, Quế Phong của tỉnh Nghệ An. Ngẫm đi ngẫm lại đến nát cả óc ra thì chỉ có một lần duy nhất ông đi thực tế ở một nhà máy hạt nhân bên Bun-gari (thời gian đó, trong số hơn 1.000 học sinh, sinh viên đang học tập ở đây, ông là đảng viên, là Bí thư Đoàn Thanh niên nên được chọn).

Hai lần chúng tôi đến thăm gia đình khốn khổ ấy cách nhau chưa đầy hai tháng. Lần thứ hai trở lại là để đứng trước ban thờ, thắp cho ông Cột nén nhang đưa tiễn. Ông Cột đi vì cảm đột ngột rồi tai biến mạch máu não. Chưa ở nơi nào mà chúng tôi thấy cảnh xóm giềng khóc thương cho một người không thân thích nhiều như bà con xóm Rường khóc cho phận hẩm của bà Bùi Thị Mỹ, cho dù lễ cúng tuần ông Cột đã qua lâu. Chồng mất, đôi vai người đàn bà góa phải gánh cả gia đình gồm mẹ già còm cõi và ba đứa con tàn tật.

Trên đầu còn để tang chồng, bà Mỹ không nén được nước mắt sau bao năm phận liễu phải mang chí tùng. Bà bảo từ ngày sinh cái Nga đến giờ, hễ chớm mệt là bà lại tự bảo mình phải đứng dậy; chớm hắt hơi, ho, sốt là bà lại đi quanh cái xóm Mường nhà mình tìm lá lẩu về xông hơi, nấu nước uống rồi lại cắp nón, vác cuốc ra đồng. Hơn ba mươi năm nay, chưa một lần bà "được" ốm.