Ngóng bóng xuân về

Paris, cuối tháng Giêng, đất trời dùng dằng, ẩm ương. Đang nắng lạnh trong veo bỗng rét mướt ảm đạm, mây xám nặng trĩu. Tôi lên bus 126 đến Boulogne Billancourt. Những con đường, những ngôi nhà nhòe trôi mộng du dọc chiều mưa mờ mịt. 

Ảnh trong bài: Nguồn LesQuare ESpicier Fin
Ảnh trong bài: Nguồn LesQuare ESpicier Fin

Tôi áp mặt thật gần ô cửa kính, dõi tìm dấu vết của chính mình. Tuyến đường này tôi từng đi nhiều lần, thuộc lòng tên mỗi bến đỗ. Xe qua bến Carrefour de l’insurrection, cách căn áp mái xưa có mấy bước chân. Tôi nhìn thấy tôi ngày nào, mỏng mảnh nắng xuân, tay ôm chậu hoa nhỏ, rảo bước sang phố Raymond Marcheron. Và tôi thấy anh, vai khoác ba-lô, đứng chờ ở góc ngã tư, trán cau cau, mắt nheo nheo sau cặp kính. Nhưng tôi biết, chỉ tích tắc nữa thôi, cái vẻ sốt ruột bồn chồn kia sẽ biến mất, thay bằng một nụ cười…

Tôi hẹn trà chiều với Cécile. Vài năm trước, chúng tôi quen nhau qua một người bạn chung và sớm trở nên thân thiết. Cécile dạy Pháp văn cho học sinh trung học, còn là dịch giả văn chương hai ngôn ngữ Pháp - Anh. Bạn sống một mình trong căn hộ nhỏ tầng cao nhất của khu nhà cũ không thang máy trên phố Pyramide, ngay trung tâm Boulogne Billancourt. Căn hộ có gì đó nhang nhác cái “tổ tò vò” của tôi ở Hà Nội trước đây, nhỏ mà nhiều cửa sổ, nhìn ra thấp thoáng tán cây xanh, cũng ngút ngàn sách chất trên giá cao tận trần nhà, và một cầu thang gỗ be bé dẫn lên phòng ngủ áp mái… Tôi từng viết về “ngôi nhà giữa khoảng trời” trong một bài thơ: “Cầu thang bé xíu dông dốc/ dẫn lên phòng áp mái/ như lên cái tổ chim/ Ngôi nhà trên cây/ khoảng trời chung chiêng/ ở đó tôi thở/ tôi nghĩ/ tôi mơ/ tôi nhớ/ và tôi đã quên bao điều...”. Tôi đọc bản tiếng Anh của bài thơ ấy cho Cécile nghe, bạn rất thích, vì bạn cũng có cảm giác giống tôi mỗi khi kẽo kẹt leo lên cầu thang gỗ, nhìn ra cửa sổ gặp mây trời. Hai chậu cây sống đời, tôi nhờ Cécile chăm hộ khi rời Paris về Hà Nội năm trước, lớn bổng lên, đang trổ thêm chi chít chồi non. Một phiến lá như bàn tay nhỏ vươn ra mừng rỡ. Chạm vào nó, cảm nhận lớp phấn tơ mịn mềm âu yếm, ấm áp thân thuộc đến thế! Cécile pha trà táo vị quế vào hai tách sứ trắng muốt in hình hoa anh túc đỏ thắm. Bạn nháy mắt với tôi, vẻ bí mật: “Đoán xem, hôm nay tớ có gì đãi cậu?”. Trên chiếc bàn tròn bằng gỗ sồi đã cũ kê giữa phòng bày một khay phủ khăn thêu lá cỏ tươi tắn. Chẳng đợi tôi trả lời, Cécile bất ngờ lật vuông khăn, lộ ra chiếc bánh vàng ruộm, mặt bánh phủ lớp si-rô óng ánh. Tôi reo lên: “Ah! Galette des Rois! Lễ Epyphany qua rồi mà vẫn có bánh Vua! Cảm ơn Cécile!”. Cécile cười, má lúm đồng tiền roi rói. Bạn bảo: “Bây giờ bọn mình có thể ăn bánh Vua quanh năm ấy chứ! Nào, xem hôm nay ai là người may mắn được đội vương miện nhé!”.

Galette des Rois, bánh Vua, món bánh truyền thống người miền bắc nước Pháp thường ăn vào dịp Epyphany - lễ Hiển linh, một trong những lễ trọng lâu đời nhất theo lịch Ki-tô giáo. Epyphany bắt đầu từ ngày thứ mười hai sau lễ Giáng sinh, ngày mồng Sáu tháng Một, để kỷ niệm thời khắc ba vị vua (còn được biết đến như ba nhà thông thái hoặc ba đạo sĩ) tới chiêm bái Đức Chúa Hài đồng vừa chịu phép rửa, nhập thế làm người. Bánh Galette des Rois hình tròn, đường kính chừng hơn một gang tay, làm từ bột ngàn lớp không men bọc kem hạnh nhân nghiền, nướng lên thơm nức. Vỏ bánh phồng căng, từng lớp xốp giòn, thơm ngậy mùi bơ; phần kem hạnh nhân bùi bùi, ngọt dịu. Một hạt đậu hay hạt hạnh nhân hoặc một bức tượng sứ đồ chơi tí xíu, gọi là “fève” giấu giữa bánh. Ai ăn góc bánh có “fève” là người may mắn. Người ấy sẽ được đội vương miện bằng giấy trang kim lấp lánh, lên ngôi “Vua” hay “Nữ hoàng” của ngày hôm đó.

Làm Galette des Rois, tỉ mẩn nhất khâu cán bột, phải kiên nhẫn. Trộn bột mì với muối, nước lạnh và bơ nóng chảy thành khối “détrempe”. Rắc bột áo lên bàn nhào détrempe thật kỹ, cán mỏng, gói lại, ủ ba mươi phút trong tủ mát. Cần tảng bơ xấp xỉ trọng lượng bột, đặt lên tấm détrempe đã ủ, gập bột trùm lên bơ, rồi lại cán. Cứ thế, gập, cán, ủ lạnh, đủ sáu lần mới để bột vào tủ lạnh qua đêm. Hôm sau, trước khi nướng bánh thì làm kem hạnh nhân. Chỉ cần đánh mềm bơ với đường, trộn lần lượt bột hạnh nhân, trứng gà, chút bột ngô, xiu xíu rượu rum. Kem dẻo quánh, mướt mượt. Chia bột làm đôi, phết trứng gà lên một phần, bơm kem vào giữa, phủ kín bằng phần bột còn lại, miết nhẹ, tạo hình tròn. Khía bánh theo đường rẻ quạt, tiếp tục phết trứng bóng láng, rồi nướng trong lò đã làm nóng. Khi bánh bắt đầu hươm hươm, hạ nhiệt độ, nướng tiếp đến khi mặt bánh sẫm lại, mùi thơm ùa ra váng nhà. Quết lên bánh mới ra lò lớp si-rô đường thật mỏng. Lớp si-rô trang điểm cho bánh vẻ lấp lánh, xinh đẹp, rạng rỡ như cô gái tuổi trăng rằm. Cũng có thể mua bột ngàn lớp cán sẵn, về chỉ việc trộn nhân, tạo hình rồi nướng. Nhưng người yêu bếp bánh nếu có thời gian luôn thích tự cán bột. Chạm tay vào lớp bột mát lạnh, nhìn thấy bơ và bột dần quấn quện lấy nhau, cảm giác khấp khởi như được làm bà mối se một cặp nên duyên, tình bền chặt không thể tách rời. Đúng là chả cần đợi đến lễ Epyphany, nếu có dịp hội ngộ người thân, bè bạn, thì một chiếc Galette des Rois sẽ khiến cuộc vui thú vị hơn nhiều. Cắt bánh, chia cho mỗi người, cùng hồi hộp chờ xem ai sẽ “đăng quang” ngôi Vua hoặc Nữ hoàng. Nếu có bọn trẻ, kiểu gì người lớn cũng tìm cách để đứa bé nhất nhận được phần bánh có “fève”. Niềm hân hoan bừng sáng gương mặt thiên thần bé bỏng. Soi vào con trẻ, người lớn tìm thấy phiên bản thuần khiết của chính mình.

Cécile cắt bánh, mỗi đứa lấy một phần. Tôi vỡ òa sung sướng khi phát hiện “fève” trong lát bánh vừa chọn. Đó là bức tượng sứ đồ chơi hình ông đầu bếp, bé bằng hai đốt ngón út. Cécile tủm tỉm, nói: “Chúc mừng cậu!”. Nhìn vẻ mặt bạn, tôi ngẩn ra giây lát, rồi cười phá lên, nghi ngờ hỏi: “Cậu có bí mật đẩy phần bánh fève về phía tớ không đấy?”. Cécile chối bay: “Không, không! Có những sáu miếng, tớ biết đâu!”. Nhưng nhìn ánh mắt láu lỉnh của bạn, tôi tin chắc bạn muốn dành may mắn cho tôi. Bạn đội lên đầu tôi chiếc vương miện giấy xinh xinh, và làm bộ nhún chân, trịnh trọng nói:“Votre majesté! Kính chào Bệ Hạ!”. Chúng tôi cười ngặt nghẽo. Hai người đàn bà đã qua biết mấy buồn vui, bỗng lại như hai cô bé, rúc rích, tỉ tê đủ chuyện. Cécile còn có biệt tài tạo hình dây thép nghệ thuật, rất sống động. Hôm đó bạn làm tặng tôi bức chân dung uốn từ một sợi thép dài. Điểm bắt đầu là khóe miệng, sợi thép cuộn theo những ngón tay Cécile, khéo léo lượn vòng quanh, thành sống mũi, mái tóc, khuôn mặt, và kết thúc ở dòng chữ “Chân by Cécile”. Thoáng nhìn, tôi đã nhận ngay ra cô bé môi cong tóc ngắn chính là hình ảnh tôi thuở ấu thơ, mong manh mà cứng cỏi, hiện hữu từ sáng tạo độc đáo của Cécile trong buổi chiều trong trẻo ấy.

Vào một ngày tháng Ba đặc biệt, tôi làm bánh Galette des Rois, món tráng miệng cho bữa tiệc nhỏ chỉ có hai người. Tôi vùi một hạt hạnh nhân giữa bánh. Học lỏm Cécile, tôi cố ý đẩy phần bánh chứa “fève” về phía anh, lẳng lặng quan sát, chờ một phản ứng nào đó trên gương mặt anh. Vỏ bánh vỡ, khẽ kêu rôm rốp. Không thấy biểu hiện gì khác lạ. “Bánh thế nào, anh?” – Tôi gợi chuyện. Anh gật gù: “Rất ngon!”. Anh vừa được “hạt may mắn” mà chẳng biết mình “may mắn”. Anh đã quá tuổi cho một trò chơi, hay một ước mơ, từ lâu lắm rồi. Tôi hâng hẫng, hỏi: “Thế anh không thấy có gì trong bánh à?”. Anh ngẫm nghĩ, rồi thủng thẳng đáp: “Hình như có một hạt còn nguyên, nhưng đằng nào nó chả lẫn vào nhân bánh. Ngon mà!”. Bao nhiêu công tôi chuẩn bị, hồi hộp, chờ đón một niềm vui, bỗng chốc tan thành sương khói. Ôi! Cái gọi là hạnh phúc mới mơ hồ làm sao! Nó có thể lớn lao hay bình dị, nhưng nếu ta không biết, không quan tâm, nó không tồn tại. Ai cũng từng là trẻ con, trưởng thành, rồi già đi, chẳng dễ tin vào bất cứ cái gì. Vậy mà ở tuổi này, đôi khi tôi vẫn mong tìm ra điều kỳ diệu còn giấu đâu đây, dù vẫn biết mọi sự xảy ra đều như được sắp đặt hết rồi.

Những lạnh lẽo mây mù ủ dột dần vơi nhường chỗ cho trời xanh nắng ấm. Bao cành cây hôm nào khẳng khiu bỗng một sớm bật ra mê man lộc biếc, ngóng bóng Xuân. Từng đàn chim lũ lượt quay về, ríu rít giữa vòm xanh, rộn rịch trên ngói cũ. Rồi chúng tưng bừng đập cánh bay vút lên, chao nghiêng cả bầu trời. Tôi đã viết những câu thơ nhắc đến tiếng đập cánh mùa xuân ấy: “Anh có nghe tiếng đập cánh của trái tim em?/ Anh trở lại có thể em đã vắng/ Cây mong lá/ Trời không mây/ Lồng ngực rỗng/ Những vết chân chim bỏ quên trên ngói xám/ Trong ngậm ngùi khoé mắt…”. Tôi về Hà Nội, bịn rịn để lại Paris thêm một đoạn đời, in đầy vết tôi xưa.