Dám nghĩ, dám làm
Người làng bảo Ðạo hâm từ năm 2002. Ấy là năm Ðạo lấy vợ ở tuổi 25, cũng đúng thời gian làng gốm Bát Tràng lao đao vì không cạnh tranh được với hàng gốm sứ công nghiệp của Trung Quốc. Kinh tế hộ gia đình khó khăn, thợ gốm buộc phải bỏ nghề gốm vuốt tay để đầu tư máy móc sản xuất gốm công nghiệp. Cả làng làm khuôn, áp dụng kỹ thuật "đúc" là mỗi mẻ gốm đã cho ra đời cả nghìn sản phẩm nuột nà, đều tăm tắp.
Sống ở làng nghề, thiếu thốn của đôi vợ chồng son nhân lên gấp bội. Ðạo đứng trước hai lựa chọn: Vay vốn đầu tư công nghệ để giải bài toán kinh tế, hay giữ cách làm thủ công truyền thống từ bao đời nay? Giữ truyền thống sẽ không giải quyết được bài toán kinh tế nhưng bảo tồn được những gì ông cha để lại.
Vợ anh, chị Nguyễn Thị Mỹ Trinh, thấy chồng suốt ngày cặm cụi bên bàn xoay đến quên ăn quên ngủ. Thương chồng, chị cũng có ý muốn theo cả làng đầu tư làm gốm công nghiệp. Nhưng cuối cùng, Ðạo quyết định "dùng đôi tay" như ông cha thuở trước. Sản phẩm đầu tiên ra lò, bao nhiêu lời xì xào của làng gốm đều dồn cả vào tai chị (vì anh Ðạo điếc nặng, muốn nói gì cũng phải như hét vào tai anh mới loáng thoáng nghe thấy): "Ðã điếc lại còn hâm. Gốm làm bằng máy, nuột nà thế còn ế ẩm nữa là gốm vuốt tay xù xì, cóc cáy...".
Ấy vậy mà gốm của anh Ðạo "điếc" cứ bán cho... Tây thật. Bố anh, ông Nguyễn Ngọc Huy, tâm sự: "Ðạo có cách làm khác người. Nó lấy men, dội một cái loang loang lổ lổ, rồi đang vuốt tròn trĩnh thế này lại vặn ngoéo một cái. Vợ chồng tôi nhìn nó làm mà cứ lo. Cả một mẻ lò như thế, chúng tôi cũng nóng lòng sốt ruột. Thế nhưng hàng của nó lại được nhiều người tìm mua, họ là những người cùng thế hệ với nó, những người yêu nghệ thuật, chuộng nhất lại là người Nhật. Bấy giờ tôi mới thấy suy nghĩ của mình là sai, và hiểu rằng cái cách nó vẩy men loang lổ, cách nó "bóp méo" sản phẩm chính là sự sáng tạo".
Ðơn hàng đầu tiên cơ sở gốm Ðạo - Trinh nhận được là 600 bình gốm có đường kính 60 cm, cao 40 cm, giao hàng sau ba tháng. Lúc đầu chị Trinh không dám nhận vì chồng chưa bao giờ làm lượng sản phẩm lớn trong thời gian ngắn như vậy. Chị về bàn với chồng. Anh Ðạo quyết nhận đơn hàng đó và lao ngay vào công việc. Thành công ngoài mong đợi, tiếng tăm của anh Ðạo "điếc" được nhiều người biết đến.
Như là số mệnh
Khi chào đời, Ðạo nặng 1,6 kg, chỉ kém người em song sinh 0,1 kg nhưng lại yếu ớt hơn em rất nhiều. Ðạo liên tục ốm đau, liên tục phải vào viện, điều trị hết đợt kháng sinh này đến đợt kháng sinh khác, uống có, tiêm có. Không rõ có phải vì ảnh hưởng của kháng sinh liều cao mà Ðạo bị khiếm thính? Ðạo cũng chẳng nói được một lời nào, ai cũng nghĩ là Ðạo bị câm. Ông Huy ôm con đến Bệnh viện Tai - Mũi - Họng, các bác sĩ kết luận màng nhĩ của Ðạo hoàn toàn bình thường. Ông Huy gật gù hóm hỉnh: "Nghe bác sĩ nói thế, tôi mới nghĩ không phải do màng nhĩ thì là do dây thần kinh, nói nôm na nó như điện trở lớn mà tiết diện dây dẫn lại bé quá ấy. Thế là cả nhà tôi thống nhất phải nói thật to để cho nó nghe được. Nhưng nhiều khi vợ chồng tôi bảo nhau: Giá mà nó chửi mình một câu thì mình cũng thấy hạnh phúc. Và mãi đến năm lên bảy thì nó mới bập bẹ nói".
Ðạo cũng đến trường, song do tai điếc nên sức tiếp thu rất chậm, học ba năm mà không qua được lớp sáu, nên ông Huy xin cho con ở nhà. Ông cười: "Lớp sáu là các thầy cô cho lên đấy, chứ kiến thức của cậu chàng chỉ được lớp hai thôi, cộng, trừ, nhân, chia còn chưa thạo cơ mà". Ðạo nghỉ học, cả làng làm nghề nhưng bố mẹ lại công tác trong xí nghiệp nhà nước nên "việc" duy nhất của Ðạo là... đi chơi.
Khi ông Huy mở lò gốm ở nhà để cải thiện kinh tế, sáng phải dậy sớm hơn để tranh thủ làm rồi mới đến xí nghiệp. Một ngày, ông vội quá, chỉ còn 30 phút nữa là đến giờ làm mà đất vẫn đang dang dở trên bàn xoay, mẻ đất hôm đó lại nhão nên chiếc bình xệ xuống. Bất ngờ Ðạo đứng phía sau đập đập vào vai bố. Ông Huy cáu: "Nghịch ngợm quá, đi ra ngoài chơi cho bố làm". Ông quay lại thì Ðạo chỉ vào cái bình rồi so vai lại như thể muốn nói: "Bố ơi, cái lọ của bố bị xệ vai rồi!". "Lúc đó tôi cũng thấy vui vui vì như thế nghĩa là nó có nhận thức. Nhưng rồi cũng quên ngay, vì ở làng gốm, đứa trẻ nào cũng có những tiếp xúc như thế cả" - ông Huy kể.
Ðến khi Ðạo 18 tuổi, ông Huy xin cho con vào Xí nghiệp gốm để học nghề. Ðến lúc đó, ông và anh em công nhân mới đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Ðạo học và làm rất nhanh, chẳng mấy chốc tay nghề đã ngang với những công nhân bậc cao của xí nghiệp. Bấy giờ ông Huy mới hiểu, Ðạo đã học nghề từ chính những năm ở nhà lang thang chơi ở khắp các lò gốm. Cậu bé câm điếc cứ tha thẩn, không người thợ Bát Tràng nào lại ngờ được rằng cậu bé không nghe, không nói được kia, chỉ nhìn thôi mà đã nắm hết những gì là "tinh hoa" của mình rồi. Có lẽ đó cũng là sự bù trừ của tạo hóa!
Không chỉ học từ người làng, Ðạo còn mày mò phục chế gốm hoa nâu thời Lý - Trần, gốm men lam, men rạn. Năm 2010, anh làm được một việc khó đối với nhiều thế hệ nghệ nhân Bát Tràng: Vuốt tay và cho ra lò thành công hai chiếc chóe kỷ lục: mỗi chiếc chóe có trọng lượng năm tạ, chiều cao 1,95m, đường kính gần 1,2m. Làm sản phẩm lớn đã khó, bằng tay lại càng khó hơn, vì phải tạo hình trên bàn xoay, phải tính cốt đất, lượng nhiệt sao cho khi nung mà không bị nổ men. Ðặc biệt, đôi chóe ấy lại được làm với nước men rạn, giả cổ. Cả hai kỹ thuật khó vào bậc nhất ấy Nguyễn Anh Ðạo đã chinh phục được. Tài hoa là thế, sản phẩm đúng "chất" Bát Tràng là thế, song anh phải thi đến lần thứ ba thì hội đồng mới "dám" phong tặng danh hiệu nghệ nhân, chỉ vì một lý do là Ðạo... trẻ quá! (Khi Ðạo nhận danh hiệu nghệ nhân, anh mới 35 tuổi).
Ðạo ít nói, vì vốn từ không đủ để diễn đạt suy nghĩ, "kiến thức về xã hội cũng rất mơ hồ" (theo lời ông Huy), thế nên mọi mối quan tâm và đam mê của anh đều dành cả vào bàn xoay, cốt đất để tạo hình cho gốm. Ông Huy bảo: Nếu Ðạo không điếc, không gần như câm thì ông đã cho Ðạo đi học, đi làm công việc khác (cậu em song sinh của Ðạo tốt nghiệp Trường ÐH Văn hóa). Và nếu không khiếm thính thì có lẽ cái nghiệp gốm đã chẳng vận vào người Ðạo như ngày hôm nay.
* Năm 2006, Nguyễn Anh Ðạo là một trong những người được đón nhận danh hiệu Thanh niên Thủ đô tiêu biểu. Cùng năm 2006, anh đoạt giải xuất sắc trong hội thi Bàn tay vàng nghề gốm sứ. Năm 2009, Ðạo nằm trong 10 gương mặt trẻ Thủ đô, được vinh danh tại Ðại hội tài năng trẻ Việt Nam. Ðầu năm 2012, anh được công nhận nghệ nhân làng gốm Bát Tràng.